Nối gót người xưa

…. nối gót người xưa
Vì hiểm họa mất nước cùng những khổ đau không ngừng của dân tộc, vì những xót xa quằn quại triền miên của quê hương, vì những máu xương đổ xuống để tạo dựng những trang sử oai hùng đánh đuổi ngọai xâm của tiền nhân, của cha anh, của bè bạn,
Chúng Ta
Hãy đứng lên nhận lãnh trách nhiệm
Hãy đạp lên những sợ hãi mà cùng nhau bước tới, bước tới. Đọc tiếp

TÀI LIỆU header


TÀI LIỆU

Date

TÂM THƯ TỪ LỰC LƯỢNG DÂN TỘC QUẬT KHỞI


_____________________________




HOÀNG SA Ư ? ĐỪNG MƠ !

NGHIỆM THU ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC:
“Quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam qua các tài liệu lưu trữ 
của chính quyền Việt Nam Cộng hòa (1954 – 1975)”
Báo Đà Nẵng
20-12-2012

Hội đồng nghiệm thu.                                                                                          Ảnh: P.VNgày 17-12-2012, Sở Khoa học và Công nghệ thành phố Đà Nẵng  thành lập Hội đồng và tổ chức nghiệm thu đề tài khoa học: “Quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam qua các tài liệu lưu trữ của chính quyền Việt Nam cộng hòa (1954 – 1975)”, do Thạc sĩ Võ Công Trí làm chủ nhiệm đề tài.

Xuất phát từ nhu cầu sưu tập tư liệu phục vụ cho việc phát huy truyền thống yêu quê hương, biển đảo; đồng thời để giúp các cơ quan hữu trách trong việc đấu tranh khẳng định chủ quyền của Việt Nam đối với quần đảo Hoàng Sa (nay là huyện Hoàng Sa thuộc thành phố Đà Nẵng), từ năm 2010, Ban Tuyên giáo Thành ủy Đà Nẵng được giao là cơ quan chủ quản triển khai đề tài quan trọng này. Sau hai năm làm việc nghiêm túc với tinh thần khoa học, các báo cáo kết quả và tài liệu liên quan đến công trình đã hoàn thành.

Có thể nói, đây là lần đầu tiên, một đề tài khoa học nghiên cứu về Hoàng Sa từ các nguồn tư liệu lưu trữ của chính quyền Trung ương của Việt Nam Cộng hòa được triển khai. Ban Chủ nhiệm đề tài đã tiếp cận, nghiên cứu hàng chục ngàn trang tư liệu liên quan đến Hoàng Sa, Trường Sa, và đã chọn đọc 209 hồ sơ, với hơn 1.028 trang tư liệu (chọn lọc) được lưu tại các Trung tâm lưu trữ Quốc gia. Từ đó hệ thống hóa những tư liệu quan trọng, chính yếu về Hoàng Sa theo những chủ đề riêng (chủ quyền, quân sự, kinh tế, nghiên cứu khoa học...), gồm: 521 trang tư liệu gốc, 30 ảnh tư liệu và 2 bản đồ. Tất cả các tư liệu được công bố trong đề tài này đều là những văn bản gốc, độc bản, có giá trị đặc biệt về lịch sử. Do vậy, mỗi tư liệu khảo sát được xem như là một hiện vật lịch sử, làm cơ sở, chứng cứ cho việc chứng minh chủ quyền của Việt Nam đối với Hoàng Sa, khẳng định tính liên tục về chủ quyền của Việt Nam đối với quần đảo Hoàng Sa, vùng lãnh thổ thiêng liêng của Tổ quốc. Tất cả các tư liệu trên đã phản ánh một cách chân thực, vững chắc, liên tục hoạt động quản lý địa giới hành chính, ấn định lãnh hải, phương diện ngư nghiệp, nghiên cứu hải dương học, điều phái viên quản lý hành chính, canh phòng các đảo, tình hình tiếp viện  lương thực, điều kiện đời sống của binh lính, nhân viên trên quần đảo Hoàng Sa từ năm 1954 đến năm 1975.

Kết quả nghiệm thu Đề tài được tất cả các thành viên Hội đồng gồm những nhà khoa học, nghiên cứu, hoạt động văn hóa thống nhất xếp loại Xuất sắc.

ThS Bùi Văn Tiếng (Chủ tịch Hội Khoa học Lịch sử Đà Nẵng, Chủ tịch Hội đồng Nghiệm thu):“Đề tài nghiên cứu khoa học “Quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam qua các tài liệu lưu trữ của chính quyền Việt Nam Cộng hòa 1954-1975” do ThS. Võ Công Trí (Ban Tuyên giáo Thành ủy Đà Nẵng) làm chủ nhiệm cũng nằm trong mạch nghiên cứu chung về việc thực thi chủ quyền của Việt Nam đối với quần đảo Hoàng Sa qua các thời kỳ lịch sử. Nếu như Đề tài “Font tư liệu về chủ quyền của Việt Nam đối với huyện đảo Hoàng Sa-thành phố Đà Nẵng” do TS. Trần Đức Anh Sơn (Viện Nghiên cứu Phát triển Kinh tế - Xã hội Đà Nẵng) làm chủ nhiệm trước đây chỉ trích lược vắn tắt nội dung các tư liệu liên quan đến Hoàng Sa từ nhiều nguồn, ở nhiều giai đoạn khác nhau thì Đề tài “Quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam qua các tài liệu lưu trữ của chính quyền Việt Nam Cộng hòa 1954-1975” tập trung vào một nguồn tư liệu duy nhất là của chính phủ Việt Nam Cộng hòa và ở một giai đoạn duy nhất là giai đoạn 1954-1975. Nhờ vậy nhóm tác giả Đề tài có điều kiện đi sâu khai thác nhiều tư liệu không chỉ có giá trị lịch sử hết sức chân thực mà còn có giá trị pháp lý rất tường minh, góp phần khẳng định chủ quyền không thể tranh cãi của Việt Nam đối với quần đảo Hoàng Sa đang bị quân đội Trung Quốc dùng vũ lực cưỡng chiếm từ năm 1974. Trên mặt trận ngoại giao học thuật rất sôi động hiện nay, Đề tài này còn mở ra một cách tiếp cận mới đối với các tư liệu khẳng định chủ quyền của nước ta đối với Hoàng Sa và Trường Sa nói riêng, Biển Đông nói chung. Mới không phải do lâu nay chưa tiếp cận theo hướng này, mà mới do đây là lần đầu tiên tiếp cận theo hướng này một cách có hệ thống và quan trọng hơn là được tận mục sở thị các tư liệu có liên quan mà vì lý do bảo mật nên đến nay vẫn đang nằm ngoài tầm nhìn lẫn tầm với của các nhà nghiên cứu. Đây là đóng góp lớn nhất của nhóm tác giả Đề tài”.

baodanang.vn

============

HOÀNG SA Ư ? ĐỪNG MƠ !
Dong Phung Viet
21-12-2012

1.
Hôm nay, người ta kỷ niệm ngày thành lập Quân đội nhân dân Việt Nam. Nhân dịp này, mình nảy ra ý, thử đem Quân đội nhân dân Việt Nam hồi mới thành lập, so với Quân đội nhân dân Việt Nam bây giờ xem sao.

So sánh mà chỉ dùng sự kiện (hay còn gọi là hiện tượng) thì dễ phiến diện và trở thành bất cập, còn đối chiếu bản chất thì lại rất khó, bởi bản chất vốn dĩ là trừu tượng. Thôi thì xem thử quan niệm về vai trò Quân đội nhân dân Việt Nam hồi mới thành lập với hiện nay coi có gì giống và có gì khác xưa không.

Do người ta vẫn bảo, khảo sát “lời thề” của một nhóm đối tượng (nếu họ có) là một trong những cách có thể giúp tìm hiểu quan niệm về vai trò của nhóm đối tượng đó trong tương quan riêng – chung, nên mình tra – đối chiếu “10 lời thề danh dự của quân nhân Quân đội nhân dân Việt Nam” hồi xưa và hiện nay.

Dưới đây là vài khác biệt trong lời thề đầu tiên – giữa “10 lời thề danh dự” của thành viên Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân (tiền thân của Quân đội nhân dân Việt Nam bây giờ), do tướng Giáp soạn và “10 lời thề danh dự” của quân nhân Quân đội nhân dân Việt Nam hiện nay (Bách khoa toàn thư mở Wikipedia không cho biết tác giả “10 lời thề danh dự của quân nhân Quân đội nhân dân Việt Nam” hiện nay là ai và quân nhân phải thề như thế từ khi nào nhưng có thể khẳng định đó là quan điểm của Đảng CSVN vì Quân đội được đặt dưới sự lãnh đạo toàn diện của Đảng).

Cũng xin nói thêm là sở dĩ mình chỉ chọn, so sánh lời thề đầu tiên, vì lời thề đầu tiên luôn luôn được xem là lõi (quan trọng nhất) và cả vì so sánh – phân tích hết cả 10 lời thề danh dự của ngày xưa với bây giờ thì dài dòng quá:

o Hồi 1944: “ Hy sinh tất cả vì tổ quốc Việt Nam, chiến đấu đến giọt máu cuối cùng để tiêu diệt bọn phát xít Nhật-Pháp và bọn Việt gian phản quốc, làm cho nước Việt Nam trở nên một nước độc lập và dân chủ ngang hàng với các nước dân chủ trên thế giới”.

o Bây giờ:Hy sinh tất cả vì tổ quốc Việt Nam; dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, phấn đấu thực hiện một nước Việt Nam hòa bình, độc lập và xã hội chủ nghĩa, góp phần tích cực vào cuộc đấu tranh của nhân dân thế giới vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và chủ nghĩa xã hội”.

o So sánh những khác biệt:

Hồi mới thành lập, khi Đảng đang cố gắng để nắm chính quyền, quân nhân thề “làm cho nước Việt Nam trở nên một nước độc lập và dân chủ ngang hàng với các nước dân chủ trên thế giới”.

Bây giờ, sau khi Đảng đã trở thành tổ chức chính trị duy nhất, lãnh đạo toàn diện, quân nhân chỉ còn thề “phấn đấu thực hiện một nước Việt Nam hòa bình, độc lập và xã hội chủ nghĩa, góp phần tích cực vào cuộc đấu tranh của nhân dân thế giới vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và chủ nghĩa xã hội”.

Ý nguyện quan trong nhất trong lời thề đầu tiên, hồi mới thành lập: “làm cho nước Việt Nam trở nên một nước độc lập và dân chủ ngang hàng với các nước dân chủ trên thế giới” đã bị đục bỏ.

Chưa kể, đem lời thề bây giờ: “phấn đấu thực hiện một nước Việt Nam hòa bình, độc lập và xã hội chủ nghĩa, góp phần tích cực vào cuộc đấu tranh của nhân dân thế giới vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và chủ nghĩa xã hội”, so với bối cảnh chính trị thế giới và hiện tình Việt Nam, người ta dễ cười hơn dễ cảm.

Thề để người nghe (có thể cả người tuyên thệ) cười thì có nên thề không?

2.
Trong mục “10 lời thề danh dự của quân nhân Quân đội nhân dân Việt Nam” trên Bách khoa toàn thư mở Wikipedia, còn có một chi tiết khác, đó là riêng Hải quân nhân dân Việt Nam thì có lời thề thứ 11.

Lời thề thứ 11 nội dung như vầy: “Chúng ta xin thề trước hương hồn của tổ tiên, trước hương hồn của cán bộ, chiến sĩ đã hi sinh vì Tổ quốc, xin hứa với đồng bào cả nước, xin nhắn nhủ với các thế hệ mai sau quyết tâm bảo vệ bằng được Tổ quốc thân yêu của chúng ta, bảo vệ bằng được quần đảo Trường Sa – một phần lãnh thổ và lãnh hải thiêng liêng của Tổ quốc”.

Tra tìm thêm trên mạng thì có vài chỗ cho biết là lời thề thứ 11, xuất hiện sau khi xảy ra vụ Trung Quốc tấn công Trường Sa, chiếm đảo Gạc Ma, bắn chìm ba tàu, giết 64 người lính Việt Nam.

Chừng đó thông tin khiến mình nảy ra vài thắc mắc:

a/ Tại sao Hải quân nhân dân Việt Nam chỉ thề “bảo vệ bằng được quần đảo Trường Sa” mà không nhắc gì đến Hoàng Sa? Chẳng lẽ Hoàng Sa không phải là “một phần lãnh thổ và lãnh hải thiêng liêng của Tổ quốc”?

b/ Tại sao lời thế thứ 11 lại chỉ dành cho quân nhân Quân chủng Hải quân? Còn Lục quân và Không quân – hai quân chủng khác của Quân đội nhân dân Việt Nam không thề lời thề thứ 11?

c/ Phải chăng cả (a) và (b) cùng là “chủ trương lớn” của Đảng?

Khi trò chuyện với một vài sĩ quan Hải quân rành rẽ chuyện Trường Sa 1988, họ bảo, trước, trong và sau khi xảy ra sự kiện Gạc Ma, bên Hải quân có rất nhiều người không đồng tình với cách ứng xử của Đảng, Nhà nước nhưng họ không thể làm gì khác hơn chuyện “ngậm đắng, nuốt cay”, chấp hành chỉ đạo từ “trên”.

Hình như vì vậy và trong bối cảnh như thế, “Lời thề thứ 11” ra đời. Nó có vẻ như một phương thức trấn an, một kiểu “công tác tư tưởng” dành riêng cho quân nhân Quân chủng Hải quân.

3.
Qua You Tube, mình được xem một video clip, cảnh lính Trung Quốc xả súng bắn vào những người lính Việt Nam trấn giữ Gạc Ma bằng… tay không và cờ. Xem cảnh đó, mình tin ai cũng phẫn nộ, ít ai cầm được nước mắt. 64 người lính Việt Nam – một nhúm người không vũ trang, trơ trọi giữa đại dương, bị kẻ thù vây bọc, bị chúng xả súng bắn gục từng người, từng người nhưng không ai nao núng – là 64 anh hùng. Giống như tiền nhân, 64 anh hùng này đem sinh mạng của mình để minh định với Trung Quốc: Trường Sa là của Việt Nam!

Trước 64 anh hùng “vị quốc vong thân” ở Trường Sa năm 1988 khoảng 14 năm, hồi 1974, có 74 người lính Việt Nam khác, cũng đem sinh mạng của họ để minh định với Trung Quốc: Hoàng Sa là của Việt Nam!

Đâu khoảng năm 2008, Bùi Thanh – một nhà báo làm việc tại tờ Tuổi Trẻ, giới thiệu trên blog của anh loạt bài “Hoàng Sa – Tường trình 34 năm sau”, kể về cuộc hải chiến bảo vệ chủ quyền Việt Nam tại quần đảo Hoàng Sa. 

Đọc loạt bài này, mình nhớ mãi chi tiết ông Lữ Công Bảy – một nhân chứng – bảo rằng, khi cuộc chiến tàn, trên đường trở về đất liền, những người lính Việt Nam tiếp tục được lệnh quay lại Hoàng Sa. Bất kể tàu hư, sức kiệt, đồng đội lớp chết, lớp bị thương, song: “…giữa khỏanh khắc yên lặng kỳ lạ và căng thẳng đó, một câu nói được thốt ra, tôi còn nhớ mãi: Dù sao đánh nhau với Trung Quốc nếu có chết cũng vinh quang hơn.. ”.

Năm 2009, Tuổi Trẻ đăng loạt bài vừa kể của Bùi Thanh, tựa loạt bài này trên Tuổi Trẻ có khác một chút so với trên blog: “Hoàng Sa – Tường trình 35 năm sau”. Nội dung của “Hoàng Sa – Tường trình 35 năm sau” bị lược bỏ nhiều chi tiết, trong đó có chi tiết: “Dù sao đánh nhau với Trung Quốc nếu có chết cũng vinh quang hơn… ” như “Hoàng Sa – Tường trình 34 năm sau”.

Đó là một sự thật đắng chát. Tuy cùng “vị quốc vong thân”, cùng là anh hùng nhưng 74 anh hùng Việt Nam tử trận ngoài Hoàng Sa may mắn hơn 64 anh hùng hi sinh tại Trường Sa ở chỗ, họ được đánh những kẻ công nhiên cưỡng đoạt chủ quyền của người Việt trên biển Đông.



Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét