Nối gót người xưa

…. nối gót người xưa
Vì hiểm họa mất nước cùng những khổ đau không ngừng của dân tộc, vì những xót xa quằn quại triền miên của quê hương, vì những máu xương đổ xuống để tạo dựng những trang sử oai hùng đánh đuổi ngọai xâm của tiền nhân, của cha anh, của bè bạn,
Chúng Ta
Hãy đứng lên nhận lãnh trách nhiệm
Hãy đạp lên những sợ hãi mà cùng nhau bước tới, bước tới. Đọc tiếp

TÀI LIỆU header


TÀI LIỆU

Date

TÂM THƯ TỪ LỰC LƯỢNG DÂN TỘC QUẬT KHỞI


_____________________________




HÃY TRÂN TRỌNG NHỮNG BIỂU TƯỢNG CHỐNG HỌA XÂM LĂNG TRUNG CỘNG !

Phan Văn Song
27-04-2013

Trong bài viết vừa qua [Hãy Trân Trọng Ý Nghĩa Quốc hận 30 Tháng 4] , chúng tôi, người viết có làm một cái lỗi, mà người Pháp gọi là acte manqué - một cử chỉ dang dỡ -nữa chừng xuân- muốn đấy mà không dám làm - kiểu em chả; hay nếu lỗi ấy là lời nói, thì thường gọi là một lapsus lingue – nói trớ - trật lưỡi. 

Nhưng đấy là một phát biểu do nội tâm điều khiển, từ cái subconscience nó nói ra. Tôi phát biểu sai là khi tôi nói rằng “xe tăng Việt Cộng đã ủi sập Dinh Độc lập”  đáng lý  là phải nói “ủi sập cái CỔNG của Dinh Độc lập”. Ủi sập cái cổng, nhưng trong tiềm thức chúng tôi, một người đã trưởng thành  và được nuôi dưởng, giáo dục trong Văn Hóa cổ truyền của miền Nam Việt Nam, “ủi sập cái cổng là ủi sập cái nhà”.

Trong Văn Hóa miền Nam, không ai từ tiện bước vào nhà mà không được mời, không ai tự mở cửa nhà ai mà không gỏ cửa và được mời vào. Không ai xô cánh cửa nhà ai cả. Vì vậy trong tiềm thức của tôi xâm phạm vào cái cổng, cái cổng  bị ủi sập là xâm phạm vào cái Dinh Độc lập ! Mong các độc giả đã tự sửa giùm người viết.

Chúng ta hãy trân trọng Biểu tượng ngày 30 tháng Tư là Ngày Quốc Hận vì bắt đầu ngày 30 tháng Tư năm 1975,một khung trời mới đã đến với Việt Nam, đã qua rồi một Việt Nam tử tế, tươi mát, đầy những giấc mơ, đầy những nụ cười, trái lại từ đấy một bức màn đen đầy uất hận đã trùm lên Việt nam! Và một chuổi dài những biến cố, tưởng đã lùi vào quá khứ bỗng nhiên trở lại với lịch sử Việt Nam: cái họa xâm lăng của anh láng giềng phương Bắc, kẻ thù truyền kiếp của đất nước và dân tộc Việt Nam đang rình rập, dọa dẫm và sẽ có một ngày sẽ đổ ập vào Việt Nam. 

Họa Phương Bắc, Họa Trung Hoa, và nay Họa Trung Cộng, kẻ thù truyền kiếp của dân tộc Việt, anh láng giềng khó khăn phía Bắc, lúc nào cũng tham lam, lúc nào cũng rình rập, lúc nào cũng muốn giành dân, chiếm đất, từ ngàn xưa, từ thời nước Việt còn phôi thai, 1000 năm đô hộ, cả hơn mười lần đánh đuổi, các Vua Tàu bất cứ thời nào, Triều đình nào, dân tộc nào phương Bắc Từ Hán qua Mông đến Thanh đều hể có dịp là phải đem quân đi thôn tính, xâm lăng Việt Nam.

Chỉ từ lúc Chúa Nguyễn Hoàng tỵ nạn vào phía Nam dãy núi Hoành Sơn (1558) mở mang bờ cõi, đất nước Việt Nam chia làm hai Xứ (1620), với Xứ Đàng Trong, phía Nam Việt Nam mới không còn giữ liên lạc, với thủ tục triều cống, với các Triều đình Tàu nữa. Riêng Đàng Ngoài, phía Bắc Việt Nam, với Chúa Trịnh với Vua Lê (1592)  là vẫn còn liên lạc ngoại giao, triều cống, đi sứ với các Vua Tàu. Và cũng để cắt đứt liên lạc với Văn Hóa Tàu. Các Chúa Nguyễn đã dùng Phật Giáo làm căn bản luân lý và đạo đức để quản trị đất nước. Nhờ vậy gần hai trăm năm tránh được nạn Tàu xâm lược. Chỉ mãi đến thế kỷ thứ 18,  vào dịp  Lê Chiêu Thống, vị Vua cuối cùng của Nhà Lê, lòng vẫn còn tham quyền cố vị, không nhìn thấy được thực tế là Vua Quang Trung đã toàn thắng, và đang thống nhứt sơn hà (1788) sau gần hai trăm năm đất nước bị chia cắt (1558 – 1775) và trên chục năm loạn lạc, giặc giả (1771 -1788). Và Vua Quang Trung chỉ một chiến công hiển hách, một trận để đời, với chiến thắng Tết năm Ất Dậu (1789), diệt quân Thanh, đuổi Tôn Sĩ Nghị về Tàu. Va từ đấy, hết nạn Tàu xâm lược.

Khi Gia Long lên ngôi Vua  lập Nhà Nguyễn, Vua Gia Long lại “tái diễn cái trò đi sứ triều cống”, không ai bắt buộc cả, trình diện Vua Tàu (1804), xin “ cầu chứng tại Tòa” với Nhà Thanh bên Tàu, và …  xin đặt tên nước. Do đó để tránh “làm phiền” anh Tàu, tên nước từ Đại Việt phải biến qua Việt Nam và đau đớn thay, hèn kém thay ! qua hai đời sau, cũng không bị bắt buộc, Vua Minh Mạng còn”hèn”  hơn các Tiến Đế mình , tiếp tục  “né Tầu” đền phải đổi tên nước là Đại Nam, chỉ vì ngại Tàu dị ứng với cái tên Việt, tên một dân tộc anh hùng. Về sau, khi Pháp qua xâm lược Việt Nam, Vua quan Triều đình Tự Đức ta,  vì u mê như nhược, suốt ngày chỉ biết thơ phú Nho học, chấp nhận để Tây thương thuyết với Tàu, đặt đô hộ trên toàn cỏi nước ta và gọi Triều đình ta bằng tên Tàu là An Nam, và Vua quan ta vẫn cúi đầu chấp nhận tự gọi ta là Nam Triều.  Thất quá nhục ! Lúc nào ta cũng lấy Táu là chuẩn. Tàu ở Bắc , ta ở Nam. Đến đổi cờ nước ta cũng dùng Quẻ Ly để tượng trưng Phía Nam. ( Chỉ từ 1949 trở đi cờ nước Việt Nam ta mới dùng ba sọc liền biểu tượng Quẻ Càn, Càn là hướng ông , là mặt Trời là Thái Dương).

Cờ Quốc Gia Việt Nam, Cờ Việt Nam Cộng Hòa biểu hiện trên nền Vàng, màu dân tộc với Quẻ Càn màu đỏ, ở hướng Đông không còn cái chuẩn Nam Bắc đối với Tàu nữa.

Với cờ Vàng ba sọc đỏ, dân tộc Việt Nam đã rứt khỏi cái chuẩn văn hóa Tàu.

Vì vậy chúng ta, muốn rứt bỏ hẳn những di tích, những huyền thoại dính líu với văn minh hay văn hóa Tàu, chúng ta phải nuôi, phải dưỡng phải trân trọng tất cả những biểu tượng chống xâm lăng Trung Hoa.     
    
Tôi xin viết đậm để không bao giờ quên, và lịch sử Việt Nam là một  xâu chuổi dài họp bởi những mắc xích, có khi đất nước bị phương Bắc xâm lăng, có lúc toàn dân bị đô hộ, đày đọa, đói khổ, nhục nhằng, nhưng cũng có  lúc toàn dân nổi dậy chống xâm lăng Trung Hoa. Một ngàn năm đô hộ với ba lần nổi dậy, ba lần Bắc thuộc. Rồi những xâm lăng, rồi những chiến công hiển hách : với những anh hùng, với trận chiến tên tuổi để đời nào Ngô Quyền với trận Bạch Đằng, nào Lý Thường Kiệt với cuộc vượt biên  phạt Tống, nào Trần Hưng Đạo hai lần đại phá quân Nguyên… Có những cuộc kháng chiến dài cả 10 năm với Lê Lợi, có một cuộc chiến thần tốc chỉ một tuần là xong với Vua Quang Trung trong trận đánh Tết năm Ất Dậu 1789.

Dĩ nhiên, lịch sử quốc gia nào cũng gồm có những giai đoạn chống xâm lăng để giữ nước, cũng có những giai đoạn bành trướng sang những quốc gia yếu hơn, những dân tộc yếu hơn để mở mang bờ cỏi. Mạnh được yếu thua là chuyện thường tình. Cá lớn nuốt cá bé là luật trời đất. Một dân tộc muốn sanh tồn phải vận dụng mưu trí, thông minh chánh trị, khả năng quân sự để chống cự, be bờ,  để không bị lấn áp, đàn áp, bành trướng để mở mang bờ cỏi, không gian sanh tồn. Lịch sử Việt Nam cũng vậy, họa phương Bắc gần như bắt buộc dân tộc ta phải bành trướng về phía Nam. Mũi Cà Mau là tận cùng phía Nam của vùng đất quê hương, dân tộc Việt ta đi hết đường bành trướng xuôi Nam. Dải Trường Sơn hiểm trở, làm hàng rào, chận đường tiến về phía Tây. Chỉ còn đường lên Miên, nhưng chính thế lực Pháp đã cứu đất nước Cao Mên khỏi sức chinh phục của dân Việt.

Nhưng nhìn chung, mặc dù nếu chỉ thuần túy quân sự, dân tộc Việt đánh nhau thật sự với quân Tàu chỉ có trên dưới chưa đầy mươi lần. Nhưng với một ngàn năm đô hộ, với một chương trình Hán hóa có hệ thống, từ văn hóa, Tàu đã xóa bỏ chữ viết ta, xóa bỏ tập tục ta , phong tục ta , lễ nghi ta …, nhưng dân tộc ta vẫn giữ được Việt tánh, dân tộc tánh. 

Trước những đòn tấn công của những chiến dịch hán hóa ta từ tập tục, lễ nghĩa đến nền văn hóa Tàu, điển hình với những tên Thái thú như Tích Quang –Xi Guang, Thái thú Giao Chỉ từ năm 1 SDL đến 25, đã chủ trương với cả một chương trình, một đường lối chánh trị hán hóa  toàn dân Lạc Việt ta, bằng cách khuyến khích đem dân từ bên Tàu qua : cho dân Tàu di dân bằng động viên dân Tàu đi kiếm đất canh tác, đi buôn bán ( có khác chi Việt Cộng ngày nay ? ); chấp nhận cả dân phản loạn qua đất Việt trốn luật pháp tra lùng; chấp nhận dân Tàu  bị đi đày; chấp nhận những tỵ nạn chánh trị hoặc kinh tế  để dần dần hán hóa đất Lạc Việt. Riêng phần đối với các quan chức Lạc, thuần hóa, sử dụng, mua chuộc,(khác chi  ngày nay với đường lối chủ trương của  Tàu Cộng đối với Nhà Nước Việt Cộng !) chỉ có tướng Lạc là Tây Vũ dám nổi dậy, nên đã bị giết chết. Tích Quang, vì không nhìn nhận Vương Mảng - Wang Mang đã cướp ngôi nhà Hán, để trở thành vì Hoàng Đế đầu tiên dùng Khổng Giáo đề cai trị (9-23 SDL) nên Tích Quang đã mở cửa Giao Châu tiếp đón  các quan chức và các văn hào, nhơn sĩ nhà Hán không phục Wang Mang tỵ nạn, mang văn hóa Tàu sang đất Việt. Tích Quang và sau đó Nhâm Diên –Ren Yan  (Thái thú Giao Châu từ  năm 29 đến năm 33 SDL) cùng nhau Hán hóa đất Giao Châu, từ văn hóa, chữ nghĩa, phong tục, lễ lạc ( buộc  dân Việt làm lễ cưới theo phong tục Tàu) cho đến canh tác cấy cày tròng trọt*

( *  Theo H. Maspero et E Malas Histoires et institutions dev la Chine ancienne Paris P.U.F 1967 page 68 ; H. Maspero « L’expédition de Ma Yuan » BEFEO XVIII n°3 page 11 ; Revue «  Annam » VII 1a, Sainson p316, Cương Mục tiên biên II, 9a).

Dĩ nhiên, giữa những cuộc chiến chống xâm lăng vẫn có những giai đoạn xây dựng và gìn giữ đất nước, vẫn có những giai đoạn “nghỉ ngơi giữa hai cuộc xâm lăng” chung sống hòa bình với láng giềng phương Bắc. Nhưng trong những thời gian nghỉ ngơi xây dựng ấy, các Triều đình Đại Việt vẫn luôn luôn cảnh giác, tuy chung sống hòa bình,  nhưng vẫn “giữ kẻ” với phương Bắc, tuy thắng trân, nhưng vẫn thực tế biết mình yếu.

Các triều đại tổ tiên ta,  không điên rồ như triều đại Cộng sản Việt Nam, nướng dân, tàn phá đất đai, quê hương để thực hiện cho được mộng nhuộm đỏ Việt Nam theo chỉ thị của Vương Triều Cộng sản Quốc Tế Kremlin, nói láo là chống Mỹ cứu Nước nướng trên 1 triệu đồng bào, phần lớn là tuổi trẻ, thanh xuân trai tráng, sẳn sàng dìm đất nước miền Bắc trong tăm tối lạc hậu, trong suốt 20 năm từ 1954 đến 1975,  bắt dân ăn cơm độn khoai, dùng phân người làm phân bón, dùng sức người thế máy cày và trâu bò (sức người sỏi đá cũng thành cơm !).  

Trái lại các Vua Đại Việt, tổ tiên ta, dù sao cũng khéo léo, cũng biết ngoại giao, nhịn nhục  nên biết đi hàng dưới, triều cống, thần phục Bắc triều.  Nhưng khốn nổi vì lúc nào cũng triều cống, vi lúc nào cũng « nói » thần phục, vì “nhịn voi chẳng xấu mặt nào” nên Bắc phương không nể mặt,  hể có dịp, là Bắc phương tìm cách ăn hiếp. Triều đình Tàu nào cũng có một anh Vua Tàu kiếm chuyện đánh Việt Nam, đòi chinh phục Việt Nam.

Nhưng, phần lớn cũng do cái não trạng chung chung của dân tộc, của người Việt Nam, não trạng « rất đồ Nho » lúc nào cũng Khổng, cũng Mạnh, mở miệng ra nói toàn chuyện điển tích bên Tàu. Những đại văn hào Việt Nam, những án văn bất hủ của Việt Nam nổi tiếng như Kim Vân Kiều, Chinh Oán Ngâm Khúc, Nhị Độ Mai, Phan Trần, Cung Oán Ngâm Khúc… đều được dịch hay lấy từ truyện Tàu. Các Cụ Nguyễn Du, Đặng Trần Côn đều không có sáng kiến tự nghĩ ra một câu chuyện đặc biệt Đại Việt với những điển tích, những địa danh địa lý thuần túy đất Việt ta. ??  Làm sao người Tàu không nghĩ rằng người Việt Nam ta là một người  anh em gốc Tàu đi lạc được ? và nay phải đem về lại quê cha đất tổ ?

Chỉ trừ một thời gian  rất ngắn, thời gian vừa lấy lại nền Độc lập sau 1000 năm tăm tối nô lệ, từ Nhà Đinh, Nhà Lý, đến nhà Nhà Trần là lấy Phật Giáo làm nền tảng quản trị dân. Tất cả những thời đại sau, vẫn vướng víu đến Nho Giáo. Kể cả nhà Lê, quân Minh đô hộ ta trên 10 năm, tàn ác như thế, diệt dân ta như thế, và khốn nạn hơn, diệt văn hóa ta bằng đốt sách Việt Nam ta, lấy kho tàng văn hóa sách vỡ Việt ta để đem về Tàu, thế mà khi Vua Lê  thành công lên cầm quyền, vẫn dùng Nho giáo và Hán Văn để quản trị đất nước !  Đau đớn quá ! Những sai lầm ấy chúng ta đang trả ngày nay. Một đất nước mà Nhà cầm quyền, Triều đình, quan chức viết chữ, nói người dân không hiểu. Tuy là âm Việt đấy nhưng người dân vẫn không hiểu. Nước Việt Nam ta phát triển sanh hoạt với hai ngôn ngữ khác nhau : tiếng Việt quan chức, tiếng Việt học hành, trí thức –Hán Việt và tiếng Việt dân gian. Do đó …và theo thiển ý chúng tôi cho đấy là cái phần hèn kém nhứt của nền Văn hóa Việt Nam. Các Cụ tổ tiên chúng ta có thể mượn ý Tàu nhưng ít ra cũng biến qua những tiếng nói,  chữ viết Đại Việt.

Đáng khen thay những cố gắng độc lập qua  chữ Nôm, nhưng chữ Nôm cũng do các ông đồ Nho nghĩ ra và vẫn không thoát khỏi  các mô hình độc tài của Nho Giáo, nhưng ít ra cũng có một cố gắng Độc Lập, Tự Chủ, Tự Quyết.  Cái tôi không bỏ chữ Nha được vì là chữ của Thánh Hiền ? mà Thánh Hiền là ai , toàn là người Tàu cả ! Thử so sánh quá trình phát triển văn hóa Việt qua chữ  Nôm của Việt ngữ ta với Nhựt ngữ, và Hàn ngữ. Văn Hóa Nhựt, Văn Hóa Hàn cũng bị Khổng Mạnh ảnh hưởng, nhưng tại sao văn hóa người Nhựt tìm được sự Độc lập đối với chữ Hán, tại sao tinh thần người Nhựt đầy sự cương quyết, quật khởi, hùng cường,  đầy sức sống đầy dân tộc tính ? Người Đại Hàn cũng vậy !

Chữ Nôm quật khởi chỉ được hai triều đại  - Nhà Hổ và Vua Quang Trung có quyết chí sử dụng nhưng sau đó vẫn các đồ Nho vẫn phá bỉnh. Lịch sử Văn Hóa Việt Nam cũng như lịch sử Việt Nam là một chuổi dài của cuộc xâm lược phương Bắc Tàu.

Thiển ý chúng tôi, chúng ta không sợ Họa Xâm lược Tàu bằng chiến tranh hay kinh tế. Chúng tôi sợ xâm lược Tàu bằng Văn Hóa. Ngày nay, nếu thật sự mà nói trong nền văn hóa Việt Nam còn có được bao nhiêu chất dân tộc Việt ? 

Tiện dây xin vinh danh nhóm Tự Lực Văn Đoàn và tất cả những Phong trào Văn hóa thời tiền chiến. May quá, các Văn Nghệ Sĩ thời tiền chiến đã để một dấu ấn đáng ghi nhớ từ Văn, với nhóm Tự Lực Văn Đoàn,  qua đến Hôi Họa của nhóm xuát thân từ Trường Mỹ thuật Hà Nôi với các họa sĩ Cát Tường – Lemur, Gia Trí, Lê Phổ…. hay Nhạc với những nhạc sĩ mà những bài hát ngày nay vẫn còn vương vấn trong ký ức chúng ta. Ngay cả trong cổ nhạc, thời tiền chiến đã cho chúng ta những bài ca rất Việt nam thuần túy là bài Vọng Cổ Hoài Lang.

Lần đầu tiên trong lịch sử dân tộc Việt có một ngọn gió Văn hóa hoàn toàn Việt Nam, không bị lai căng, ảnh hưởng Tàu.

Thái độ, não trạng lụy Tàu cũng phải kể đến những thái độ hèn kém của những người Việt chúng ta khi thua cuộc, trong những tranh chấp nôi chiến, những khi  đi cầu cạnh Vua Tàu,  đời nào cũng có, hậu duệ Nhà Trần dưới đời nhà Hồ, rồi đến Nhà Mạc đến Nhà  Lê, nhiều khi không cầu cạnh Vua Tàu, vì Bắc Kinh quá xa,  mà chỉ cầu cạnh tên Tổng đốc Lưởng Quảng. Ngay đến cả thời cận đại,  những nhà đấu tranh chống Pháp, từ không Cộng sản đến Cộng sản đều chạy qua Tàu. Hết nhờ Tưởng, rồi nhờ Mao. Ngày nay, nếu các tay cầm quyền trong nước hèn và sợ Tàu như vậy, âu đó phải chăng cũng là do cái truyền thống ấy ? May mà đoạn cuối của lịch sử chúng ta “bị” Tây thực dân, “bị Mỹ” đế quốc nên mới có dịp tỵ nạn ở Tây ở Mỹ. Nếu không ngày nay tụi mình ở Tàu hết, may lắm thì Hong Kong, Ma Cao, không thì Bắc Kinh Trùng Khánh, Shanghai… còn xui lắm thi ở đất Tứ Xuyên chết vi động đất !

Tội nghiệp thay cho Việt Nam ! Anh hùng nhưng vẫn ham sống, nên  cái dân tộc sanh tồn  của Việt Nam, trước tiên là “né Tàu”. Né không được mới đánh, thường đánh những trận ngắn, đánh thắng xong, đi giảng hòa, và xin triều cống…Và tiếp tục Nam tiến để tìm đất sống. Đất Lưởng Quảng, Hợp Phố, Phiên Ngung, mặc dù của tổ tiên đấy nhưng vẫn lơ không dám đòi. Đảo Hải Nam cũng là đất của của dân Việt, cũng không dám đòi. Trong các Triều đại Việt Nam  chỉ có Vua Quang Trung là có ý định đòi lại Lưởng Quảng thôi. Trong các trận đánh chống xâm lược, đều đánh nhau trên đất Đại Việt để tự vệ, chỉ có dưới đời Nhà Lý,  kiện tướng anh hùng Lý thường Kiệt dám xuất quân vượt biên giới  Việt – Hoa phạt Tống (cuối năm 1075), hạ được thành Ung Châu, chém được đầu Đô Giám Quảng Tây. Nhưng rất tiếc sau đó, các Triều đình về sau chỉ biết giữ nước, be bờ với Tàu thôi !

Lịch sử Trung Hoa cũng lắm lần thay ngựa giữa giòng, thay vua đổi chủ, nhưng bất cứ những tay lãnh đạo nào, bất cứ một ông Vua Tàu nào, khi lên ngôi, trong chương trình, cũng không sớm muộn gì, cũng đòi xâm chiếm Việt Nam ta. Đến cả những lãnh chúa các dân tộc  ngoại xâm gốc cực Bắc nước Tàu, không phải gốc Hán tộc như Mông cổ, hay Mãn Thanh khi chinh phục được ngai vàng Bắc kinh cũng lâm le xâm chiếm Việt Nam !

Đến cả ngày nay, Trung Cộng/ Việt Cộng thề thốt với nhau, “môi hở răng lạnh, núi liền núi, sông liền sông” thế mà, hể có dịp là cũng xâm chiếm Việt Nam. Mà cũng phải, Việt Nam lúc nào cũng cho mình là Văn Hóa Khổng Mạnh. Lăng miếu, Chùa chiền, đều chữ Tàu cả, dân Việt đi viếng không đọc được. dân Tàu thường dân đi du lịch đọc được, vì vậy họ tưởng nhầm là Đất Việt là đất Tàu. May các Cha Cố Đạo đến Việt Nam, la- tinh hóa tiếng nói Viêt Nam để thành chữ Quốc ngữ, quốc hồn quốc túy Việt Nam ngày nay.

Ngày nay, Tàu nó ăn hiếp như vậy mà trong nước,  Cộng quyền vẫn nín im  re, im rinh rít. Né, tránh, nhịn…thôi cũng được nhưng tại sao không để dân biểu tình, dân phản đối Tàu. Dân chủ mà ! Chớ có quên những nỗi nhục ngàn xưa:

Nếu chúng ta chấp nhận bị hành xác, lên núi xẻ gỗ, xuống biển mò trai, triều cống Tàu, chúng ta PHẢI nhứt định không chấp nhận, viết văn tự hoàn toàn bằng chữ Hán, chúng ta không chấp nhận tái lại cảnh “ Cột đồng chết, Giao chỉ diệt”, chúng ta không chấp nhận bím tóc. Vua Quang Trung đã nói chúng ta phải đánh “để có quyền nhuộm răng đen !”, chúng ta không chấp nhận lễ lạc theo Tàu, …

Mong các nhà viết sử, nghiên cứu để phân loại ra những tập tục nào thật sự Việt, những tập tục nào do Tàu … Còn đâu hình ảnh con Nghiêu trên những sân đình, những nóc đình ? Còn đâu những tượng Phật khổ hạnh, gầy ốm của Phật giáo Việt Nam, ngày nay chỉ thấy toàn những ông Phật Di Lạc mập mạp của Tàu ?

Mong các nhà viết sử tiếp tục nghiên cứu và đi tìm lại nguồn gốc Văn Hóa Việt: Đạo Việt của Đại Việt với Thờ Cúng Cha mẹ, Thờ cúng Trời đất, Tổ tiên, Đất Nước, Đồng Bào… Ơn Trời Đất, Nghĩa Đồng Bào.

Hãy về Miền Tây đất Nam Kỳ chúng ta (tôi nói Nam Kỳ, chứ không nói Nam Bộ - vì Nam Kỳ do Nam Triều ta gọi chứ không phải của Tây thuộc địa đặt tên đâu !  Tây thuộc địa nó gọi là Cochinchine. Tây không có chia đất nước ra làm ba miền như thiên hạ tưởng. Chính Nam Triều đã chia ra ba miền. Nam Kỳ Lục tỉnh đã có sẵn trong hành chánh Triều Nguyễn rồi. Bằng chứng, Cụ Phan Thanh Giản, bị Nhà Nguyễn đổ thừa là làm mất ba tỉnh cuối cùng của Nam Kỳ !)  

Hãy về miền Tây Nam kỳ của chúng ta, hãy tiếp xúc với các tín đồ Phật Giáo Hòa Hảo để nhìn thấy người Hòa Hảo cúng kiến thờ phượng. Họ nhớ Ơn Tam Bảo Nhà Phật đã đành, nhưng họ cũng nhớ Ơn Tổ Tiên, ơn Cha mẹ, ơn Đồng bào, ơn Đất Nước gọi là Tứ Ơn. Kinh giảng sấm giảng bằng tiếng Việt dễ dàng cho mọi người dân Việt hiểu. Chữ Thánh Hiền Việt Nam phải là chữ Việt chứ không chữ Hán. Văn Hóa Đại Việt lễ nghi Đại Việt có đầy đủ Thánh Hiền không cứ chi mà phải mượn Khổng Tử, Mạnh Tử của Tàu.

Chừng nào chúng ta còn ca tụng Văn Hóa Khổng Mạnh, chừng nào chúng ta còn truyền tụng, kinh điển những Tam Quốc Chí, những Thủy Hử, chừng nào chúng ta còn diễn, còn giải, còn lấy những tích Tàu làm bài học thì dù có bao nhiêu lần đánh đuổi bọn xâm lược Tàu, chúng ta không dứt điểm  được  suy nghĩ, ý chí và giấc mộng của người Tàu là luôn luôn xâm chiếm nước ta, vi nước ta là đất Tàu đó thôi !

Chúng ta phải có ý chí dứt bỏ thằng Tàu trong con người Việt của chúng ta,  thì thằng Tàu mới không đòi chiếm đất Việt.  

Mong thay !

Hồi Nhơn Sơn, tuần cuối tháng tư đen thứ 38
Phan Văn Song 

Trí Nhân Media

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét