Nối gót người xưa

…. nối gót người xưa
Vì hiểm họa mất nước cùng những khổ đau không ngừng của dân tộc, vì những xót xa quằn quại triền miên của quê hương, vì những máu xương đổ xuống để tạo dựng những trang sử oai hùng đánh đuổi ngọai xâm của tiền nhân, của cha anh, của bè bạn,
Chúng Ta
Hãy đứng lên nhận lãnh trách nhiệm
Hãy đạp lên những sợ hãi mà cùng nhau bước tới, bước tới. Đọc tiếp

TÀI LIỆU header


TÀI LIỆU

Date

TÂM THƯ TỪ LỰC LƯỢNG DÂN TỘC QUẬT KHỞI


_____________________________




AMERICONG 1E - "GIẢI PHÓNG MIỀN NAM VIỆT NAM", THÁNG 1 TỚI THÁNG 4 NĂM 1975

Roger Canfield, PhD
Lê Bá Hùng chuyển ngữ 
Tất cả bài khởi đăng từ Americong

( để thêm tài liệu trong tủ sách chiến tranh VN, TNM phổ biến với sự đồng ý của dịch giả )

Hình bên: Người cha miền Nam ôm xác con, nạn nhân của Việt cộng, bích chương 1966. Số ARC: 531444

Tại Campuchia … Chúng đâm xỏ dọc nguyên thân các nhi đồng bằng một cọc tre và dùng đinh đóng các xác này trên tường của các tòa nhà. … Nhiều bà mẹ đã lập tức hóa điên. 138

Tại Việt Nam … Lúc 06:30 chiều ngày 29 tháng 4, 1975, “Điện bị cắt … cả thành phố tối thui … bị bao phủ vì tủi hổ”. 139 Đèn đường tắt hết, mưa đổ xuống, nhưng  sự phản bội và nổi nhục của Mỹ không bao giờ được rửa sạch.

Tại Lào ... Chiến dịch –  Tiêu huỷ Diệt chủng, và – Triệt tiêu Toàn diện xóa bỏ các bộ tộc Hmong trên cao nguyên của Lào, bắt đầu thập kỷ của – thanh lọc sắc tộc và diệt các chủng tộc miền núi mà đã – không được ngay cả một phút tin thôi trên các hệ thống Mỹ.

Sau phần tường trình về công tác nhiều năm thành công tiến hành “hoạt động chính trị” chống lại kẻ thù (địch vận) ở ngoại quốc, và trong phong trào hòa bình tại quốc nội Hoa Kỳ, chúng ta đi nhanh qua phần kế tiếp.

Hà Nội đang hoàn thiện kế hoạch của mình – "giải phóng miền Nam Việt Nam" và cuối cùng là thống nhất dưới quyền Cộng sản toàn bộ Đông Dương: Việt Nam, Lào và Cam-pu-chia. Bộ đội đầy đủ súng ống của  Bắc Việt tin tưởng là một tân Quốc hội Hoa Kỳ hoàn toàn không bị ràng buộc bởi quyền phủ quyết sau sự kiện Watergate , lại được hỗ trợ bởi bọn Mỹ cùng chí hướng  trung thành với Hà Nội trong phong trào hòa bình, sẽ ngăn chặn Tổng thống Gerald Ford can thiệp. Lực lượng quân sự của miền Nam Việt Nam không còn có thể có được các tiếp liệu vào phút cuối của Mỹ như họ đã từng có trong các cuộc xâm lược trước vào năm 1968 và 1972.

Sau khi lặng lẽ tăng gấp bốn lần các chuyến chuyển vũ khí, trong đầu tháng 11 ở Moscow và cuối tháng 12 năm 1974 tại Hà Nội, giới lãnh đạo quân sự của Liên Bang Xô Viết đã đích thân khuyến khích các lãnh đạo Bắc Việt .140 Tại Hà Nội vào cuối tháng 12, Tổng tham mưu trưởng Lực lượng vũ trang của Liên Xô, tướng VG Kulikov, đã gặp Thủ tướng Chính phủ, tay chuyên nghiệp thường đứng ra chào đón các phái đoàn hòa bình Mỹ, Phạm Văn Đồng, chiến lược gia quân sự, Tướng Võ Nguyên Giáp và tên tướng chỉ huy cuộc xâm lược là Văn Tiến Dũng. Ngày 27 tháng 12 năm 1974,  Kulikov đã ca ngợi trình độ tác chiến cao trong việc huấn luyện của các đơn vị Bắc Việt mà y đã duyệt. 141 Có lẽ Kulikov nói với bọn cộng sản Việt là chúng đã tốt nghiệp để từ ở vị trí chỉ là – tiền đồn của chủ nghĩa xã hội ở Đông Nam Á,  142 thành một cái gì đó  đáng kể hơn . Tướng Giáp cảm ơn  – sự giúp đỡ to lớn và hữu hiệu của Liên Xô … mà đã dành cho nhân dân ViệtNam.

Kulikov cho bọn cộng sản Việt Nam một chân dung khảm xa-cừ của VI Lenin … Đến năm 1975 việc ca ngợi công khai như trước kia đối với Thomas Jefferson đã không còn hữu dụng trong công tác tuyên truyền.
Vậy là, cuộc xâm chiếm cuối cùng của miền Nam ViệtNamđã được quyết định.

Trong hai cuộc họp 143 tại Hà Nội vào tháng 12 năm 1974 và tháng 1 năm 1975, Lê Duẩn, tên kế nhiệm Hồ Chí Minh và là lãnh tụ Đảng Cộng sản thuyết phục Bộ Chính trị Bắc Việt để thực hiện một cuộc xâm lược quy mô khác toàn miền Nam Việt Nam . Mặc dù chiến dịch tổng tấn công vào năm 1968 và 1972 đã thất bại rất nặng nề, thì bây giờ, một Quốc hội hậu Watergate với sự hỗ trợ bởi một bộ máy phản chiến quốc gia sẽ khiến Tổng thống Gerald Ford sẽ nhu nhược, hầu ngăn chặn việc Mỹ cung cấp vũ khí, và không trợ cho các đồng minh Nam Việt Nam.

Việc "Giải Phóng" Nam Việt nam

Để thăm dò ý chí của của Mỹ, vào ngày 1 tháng giêng năm năm 1975 lực lượng quân sự chính quy Bắc Việt tấn công Phước Bình, thủ đô của tỉnh Phước Long chỉ cách Sài Gòn một trăm dặm. Đại sứ Graham Martin cầu xin Washington hãy có một phản ứng ngoại giao và công khai có sắp xếp tốt hơn và mạnh mẽ hơn là trong quá khứ. Martin muốn toàn bộ sự thật như là một câu trả lời để bác bỏ chiến dịch có tổ chức cố tình dối trá và bóp méo, đặc biệt là từ – Don Luce, Fred Branfman … trong Trung tâm Tài nguyên Đông Dương (Indochina Resources Center) 144 Khi thấy không có phản ứng quân sự từ Chính phủ Mỹ, các tên đồng chí cùng chiến tuyến đầy kinh nghiệm của Hà Nội trong Liên minh  Chống Tài Trợ Chiến Tranh (Coalition to Stop Funding the War ) vùng lên ra tay hành động. Liên minh Mỹ đã lên án chế độ Thiệu của miền Nam Việt Nam vi phạm tự do báo chí và bỏ tù hàng chục ngàn tù nhân chính trị. Hà Nội thì không có tự do báo chí mà còn thủ tiêu các nhà bất đồng chính kiến. Liên minh Mỹ không đổ lỗi cho các tiểu đoàn và sư đoàn trang bị vũ khí đầy mình của các lực lượng xâm lược cộng sản, mà lại kết án quân đội Nam Việt đã luôn luôn phá hoại hòa bình tỉnh Phước Long bằng cách – liên tục tấn công các khu vực thuộc quyền Chính Phủ Cách Mạng Lâm Thời, bao gồm cả tỉnh Phước Long.145

Nhìn chung bề ngoài, đối với đa số những người không am tường thì Liên minh Ngăn chặn tài trợ Chiến tranh có vẻ như là là một kết hơp hùng mạnh của các tổ chức đại diện cho một phần lớn công luận Mỹ. Thực ra, Liên minh này được thành lập do nhiều nhóm nhỏ của bọn cùng phối hợp để tự tuyên bố là tiếng nói cho tất cả các thành viên của nhiều nhóm tiền phong bao gồm America Friends Service Committee, ASFC, Clergy And Laity Concerned, CALC, Episcopal Peace Fellowship, Fellowship of Reconciliation, Indochina Mobile Education Project, Indochina Peace Campaign, IPC, Indochina Resource Center, IRC, International Committee to Free South Vietnamese Prisoners from Detention, Torture and Death, Medical Aid to Indochina, MAI, People‘s Coalition for Peace and Justice, PCPJ, SANE, Vietnam Veterans Against the War, VVAW, Women‘s International League for Peace and Freedom, WILPF, War Resisters League, WRL, và Women Strike for Peace, WSP.

Các tổ chức này thường có cùng hội viên, văn phòng và máy in. Các hội đã được hưởng quy chế miễn thuế là Board of Social Concern of the United Methodist Church, United Church of Christ, and the United Presbyterian Church thì lại quay qua tài trợ cho hội cũng được được miễn thuế là Indochina Resource Center, mà đã sản xuất một số lượng khổng lồ về tài liệu tuyên truyền ủng hộ Hà Nội cho Liên Minh, rồi vận động ở hành lang Quốc hội và không cung cấp được tài liệu cho Quốc hội về tình trạng miễn thuế của họ.
Coalition to Stop Funding đã nhiệt tình cung cấp bộ mặt bề ngoài một cách hiệu quả và hợp pháp cho cuộc xâm lược của Cộng sản vào năm 1975.

Pháo kích tỉnh lỵ Sông Bé (Phước Bình), thủ phủ của tỉnh Phước Long

Được xếp cùng hạng với cuộc kháng cự cuối cùng tại Alamo và tại đèo Thermopylae, tuy hào hùng nhưng vô ích, quân đội can trường của Cộng Hoà Việt Nam, Quân Đội VNCH, bị thương vong quân tới 84% và 20.000 thường dân vô tội đã chết. Lịch sử gần như không nói gì tới việc phòng thủ oai hùng của QLVNCH tại Phước Bình và việc cộng sản tàn sát dã man thường dân không tự  vệ. Cuối tháng 12 năm 1974 và đầu năm 1975 vụ pháo kích của dân thường ở thành phố Sông Bé,146 còn được gọi là Phước Bình, thủ phủ của tỉnh Phước Long, cũng là một vụ tàn sát do cộng sản thi hành mà đã không được tường trình đúng mức trong suốt lịch sử lâu dài của cuộc chiến. Douglas Pike nay cho biết hành vi hung ác của cộng sản rất phổ biến đến mức mà báo chí đã không còn xem chúng như là – tin tức. 147. Thật vậy, sớm nhất là vào năm 1966 Văn Phòng Liên Hợp Các Vấn Đề Công Cộng (Joint United States Public Affairs Office, JUSPAO), đã có một máy bay trực thăng trực sẳn chờ hàng ngày để đưa các phóng viên đến các nơi đã xẩy ra các hành vi tàn ác này. Các phóng viên hầu như không bao giờ sử dụng tới trực thăng này 148 và đã hoàn toàn không viết gì về các tội ác cộng sản.

Sau khi nghỉ ngơi chờ sẵn trong mật khu tại Cam-pu-chia của họ, các lực lượng chính của quân Bắc Việt và Việt Cộng đã di chuyển vào miền Nam Việt Nam. Cuộc tấn công ban đầu bao gồm hai sư đoàn bộ binh, một tiểu đoàn xe tăng T-54 Liên Xô , một trung đoàn pháo binh, một trung đoàn phòng không , và nhóm trinh sát Việt Cộng với bộ binh. Khởi công ngày 13 tháng 12, năm 1974, quân Bắc Việt nhanh chóng loại bỏ từ tiền đồn này tới tiền đồn khác của Nam Việt và sau đó chỉa mủi dùi vào sân bay tại Sông Bé. Lực lượng phòng thủ của Quân Đội VNCH phản công lại với lựu đạn, pháo và trực thăng,  triệt hạ 16 xe tăng địch mới vừa được tân trang lại, nhưng QLVNCH đã đành khất phục trước sức pháo vượt trội của địch là 3.000 quả mỗi ngày.

Ngày 6 tháng 1, trong khi chiến đấu chống lại bốn xe tăng T-54 , vị tỉnh trưởng đã bị trúng thương nặng (mà sau đó đã tử thương) và đã phải cùng bộ tham mưu rút lui bỏ Sông Bé, Phước Bình, thủ phủ tỉnh đầu tiên bị mất vào tay địch. Hầu hết các đơn vị phòng thủ gồm có Quân Đội VNCH, Địa Phương Quân và Nghĩa Quân đều đã chiến đấu cho tới khi chết, – chỉ có 850 trong số 5.400 là sống sót, 16%. Hàng chục ngàn đã bị tàn sát, chỉ có 3.000 phụ nữ và trẻ em trong số từ 20.000 đến 30.000 thường dân thoát khỏi được trận pháo tàn nhẫn và bừa bãi của pháo binh và xe tăng Hà Nội.

Ngày 7 tháng giêng, Phước Bình thất thủ. “Số ít công chức cấp tỉnh, thôn, và ấp đều bị xử tử mà không cần xét xử”. 149 Trận chiến đánh chiếm tỉnh Long Phước hoàn tòan không hề là – nhân đạo và khoan dung như những chính sách mà bọn cộng sản luôn luôn đề cao và các phong trào ‘hòa bình’ luôn luôn cổ xúy – tính cách tàn bạo của nó thật là dứt khoát.

Liên minh Coalition to Stop Funding the War, luôn luôn trung thành với Hà Nội, tuyên bố là Ngoại trưởng Henry Kissinger (Tổng thống Ford đã không bị đề cập đến) đã ngấm ngầm cố gắng bóp méo công luận và bi thãm hóa cuộc chiến. TờWashington Post viết, – Họ đang phô bày Phứơc Bình như là một ví dụ nghiệt ngã của số phận đang chờ đợi những thị xã, thành phố và các tỉnh quan trọng hơn của Nam Việt, … 150 Cả phong trào hòa bình cũng như là báo chí đã không tin là cộng sản ác độc cũng như không tin là QLVNCH oai hùng.

Đại tá Harry G. Summers viết rằng cuộc xâm lược của Bắc Việt tại tỉnh Phước Long là – một vi phạm trắng trợn Hiệp định Paris … rõ ràng để thăm dò ý chí của Mỹ, . . . Tổng thống Gerald Ford đã nhu nhược hạn chế phản ứng của mình chỉ bằng những công điện ngoại giao. Bắc Việt Nam đã được bật đèn xanh để xâm chiếm miền Nam Việt Nam  151, và, chúng tôi thêm là, đã nhận được ba lần hô to cổ vũ từ các điệp viên Mỹ của họ mà đang nằm trong Liên minh Coalition to Stop Funding the War.

Kể từ đó, với cán cân bằng quân sự nay đã cố định và không thay đổi, các biến chuyển quân sự lần lượt tiếp diễn không ngừng cho tới kết quả đương nhiên của chúng – cuộc xâm chiếm toàn bộ miền Nam ViệtNam, Campuchia và Lào của cộng sản.

Cuộc xâm chiếm miền Nam Việt Nam chỉ mất bốn tháng, kết thúc nhiều năm trước cả lịch trình ban đầu của Hà Nội. Ở khắp mọi nơi, bộ đội được trang bị rất đầy đủ của Hà Nội đã đối đầu với một quân đội miền Nam Việt Nam mà chỉ được trang bị với vũ khí cứ cạn kiệt nghiêm trọng lần lần và hoàn toàn không hy vọng có thêm viện trợ Mỹ nữa. Chiến lược gia cốt yếu của miền Bắc Việt Nam và cũng là Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, Đại tướng Võ Nguyên Giáp, cho biết, trong Làm thế nàoChúng tôi thắng trận, ” [Đảng chúng tôi] đã kết hợp đấu tranh vũ trang với đấu tranh chính trị và ở vào vài giai đoạn nhất định … cùng với đấu tranh ngoại giao để hoàn toàn đánh bại cuộc chiến  xâm lược tân thực dân của Mỹ-Thiệu .” 152 Giáp, theo lời Đô đốc Elmo Zumwalt, đã rất rõ ràng. Họ luôn luôn biết là họ đã giành chiến thắng ngay ở đây [ở Mỹ] và các bọn Jane Fonda của thế giới này đã rất là lợi ích cho họ. 153 Như chúng ta sẽ thấy, việc đấu tranh chính trị, sử dụng phong trào phản chiến (địch vận) đã đóng một vai trò hợp nhất và quả thật cốt yếu cho các chiến thắng quân sự của Hà Nội vào năm 1975.

‘Mùi Chiến Thắng”

Tin tức – Watergate. Quốc hội triệu tập vào ngày 14 tháng giêng năm 1975. Một năm trước đó, Hiệp định Hòa bình Ba-lê trong tháng giêng năm 1973 đã cho phép – thay thế viện trợ quân sự không giới hạn, vật tư thiết yếu như thuốc men, bông băng, đạn dược, phụ tùng thay thế, và vũ khí chiến thuật cho Nam Việt. Hơn nữa, Tổng thống Nixon đã hứa với Thiệu rằng lực lượng Hoa Kỳ sẽ can thiệp để cứu Sài Gòn như đã từng làm vào năm 1972 (và ở Yom Kippur năm 1973). Nixon nay đã không còn và nghĩa vụ quy định bởi hiệp ước hòa bình cùng những lời hứa của tổng thống bất kể tới Quốc hội nay mang ý nghĩa khác. Thượng nghị sĩ Edward Kennedy và John Tunney đề nghị tu-chính dự luật ngân sách quốc phòng để tiếp tục giảm triệt để thêm viện trợ quân sự cho Nam Việt. Một tu-chính từ Kennedy cắt giảm $ 266 triệu từ một dự luật chi tiêu bổ sung cho Việt Nam. Sau đó là cắt giảm 220 triệu USD dành cho Campuchia. Một cuộc điều tra của Thượng viện về Chiến dịch Hòa bình tại Đông Dương của Hayden và Fonda bị xếp lại. 154 Để trả lời yêu cầu của Tổng thống Ford chuẩn chi 522 triệu để hỗ trợ Đông Dương, tổ chức Weather Underground đánh bom Bộ Ngoại giao làm hư hỏng 20 phòng nằm trong ba tầng lầu, đe dọa bốn địa điểm khác tại Washington, nhưng thất bại khi đặt bom Tòa Nhà Liên Bang ở Oakland. 155 Việc cắt giảm hai phần ba viện trợ cho Nam Việt của Quốc hội đã, như chúng ta từng thấy, làm trầm trọng hơn do việc Liên Xô đã tăng gấp bốn lần hơn viện trợ cho Bắc Việt.

Các tên phản chiến Dân chủ và bọn chó nhát Cộng hòa đã cắt ống dưởng khí đang nuôi giúp các đồng minh của chúng ta, Andy Messing, một sĩ quan bộ binh trong Congressional Affairs đã hồi tưởng lại .156 Trong một vài tháng sau đó, Kissinger đã nói với John Connolly, cựu Thống đốc Texas và bạn của Tổng thống Nixon, – Chúng tôi gây nên làn sóng hoảng sợ, và sau đó chỉ là địa ngục mà thôi. Chắc chắn đã sẽ có tấn công (Bắc Việt), nếu không vì các cuộc tranh luận tại Quốc hội về việc viện trợ cho các đồng minh của chúng ta. 157 Gareth Porter, George Kahin, Tom Hayden đã ra làm chứng trước Quốc hội như là một phần kế hoặch của Liên minh Coalition to Stop Funding the War.

Đại Hội Quốc Gia để cứu vãn Hòa bình – ngày 25 tới 29 tháng giêng năm 1975

Hòa bình đang bị đe dọa không bằng các chiến xa Bắc Việt, nhưng mà bởi kháng chiến miền Nam. Vì vậy, trong khi Bắc Việt Nam đang bắt đầu trận tấn công cuối cùng để đánh bại Nam Việt , Tom Hayden và Jane Fonda nhập chung với IF Stone, Bella Abzug, Joan Baez, Rabbi Balfour Brickner, Daniel Ellsberg, George McGovern, Holly Near, Pete Seeger, và hàng ngàn tên khác trong một Đại Hội Quốc Gia để cứu vãn Hòa bình.

Từ thứ bảy 25 tháng giêng đến ngày 29 tháng giêng năm 1975, chúng đã gặp nhau tại Đại học Georgetown, tại nhà thờ Presbyterian ở đại lộ New York, điện Capitol và nhà thờ Lutheran Church of the Reformation. Chương trình của các buổi họp của Đại hội tại Georgetown đáng chú ý nhất là đã có sự hiện diện của Giám mục James Armstrong, Nguyễn Hữu An (Liên minh của người Việt Nam), Fred Branfman (Indochina Resource Center), Thích Thiện Châu (Việt Nam Resource Center), Bob Chenoweth (IPC POW), Tom Cornell (FO), dân biểu Ron Dellums, dân biểu Robert Drinan, Ngô Công Đức (Indochina Resource Center), Daniel Ellsberg, Jim Forest (AFSC), Morton Halpern (Trung tâm Nghiên cứu an ninh Quốc gia), dân biểu Tom Harkin, Sokhom Hing (Group of Khmer Residents), Ngô Vĩnh Long (Indochina Resource Center), Don Luce (Calc), Doug Hostetter (United Methodist), Ed Miller (IPC,POW), Gary Porter (Indochina Resource Center), Le Anh Tu (NARMIC/AFSC), Cora Weiss (Medical Aid to Indochina) và Ron Young (AFSC).

Tom Hayden với Jane Fonda trình chiếu phim Haskell Wexler của chúng – Giới thiệu kẻ thù (Introduction to the Enemy), nhằm mô tả cuộc sống hạnh phúc của các chiến binh , phụ nữ, trẻ em, người lao động Việt Nam để đến một chủ nghĩa xã hội không tưởng. Cuốn phim của Peter Davis và Bert Schneider, Hearts andMinds, là một tuyên truyền chiến tranh tuyệt hảo nhằm mô tả nền văn hóa Mỹ như là chỉ có tính cách phân biệt chủng tộc và quân phiệt. Các buổi hội thảo bao gồm tất cả những đại ảo tưởng và đại lừa dối về cuộc chiến tại Việt Nam, bao gồm luôn cả những kỳ vọng to lớn nhất của trí tưởng tượng tả phái, một thành phần thứ ba tại Việt Nam, hòa giải, trung lập, viện trợ y tế, và bồi thường chiến tranh. Đã xuất hiện những quan niệm mà nay đã trở nên thông thường và hữu ích nhằm  bóp méo sự thực: Campuchia được hòa bình sau chiến tranh, luật quốc tế sẽ tương phản với chế độ tra tấn của Nam Việt, các tù nhân chính trị, các chuồng cọp ác độc của CIA. 158 Liên minh yêu cầu, – Quốc hội hãy từ chối bất kỳ nỗ lực nào để gia tăng viện trợ quân sự cho miền Nam Việt Nam HOẶC Campuchia. 159

Ngoại trưởng Kissinger đã kể về tính cách nghiệt ngã do việc Hoa Kỳ không viện trợ được đồng minh.

Ngày 9 tháng 2 năm 1975 Kissinger điện thoại cho Silvio Conte (Cộng hòa-Massachusetts) để thảo luận về số 377 triệu đô-la viện trợ khẩn cấp cho Campuchia. Conte trả lời – công luận chống lại việc này. Kissinger hỏi lại tâm trạng công chúng sẽ ra sao nếu – họ thấy cảnh quân Cộng sản tiến vào Phnom Penn – điều này chắc chắn sẽ xẩy ra vào ngày 15 tháng 4 nếu họ không nhận được tiền . 160 Kissinger đã đóan sai đúng ba ngày. Kissinger và Walt Rostow, cố vấn của Tổng thống Kennedy và Johnson, bàn luận vào ngày 22 tháng 2 năm 1975.

Kissinger: – Những gì chúng ta đang làm tại Việt Nam quả là một trong những đại bi kịch của thời đại chúng ta.
Rostow: – Hành vi chính trị bẩn thỉu nhất trong [cái] lịch sử [của] cường quốc này. 161

Ngày 24 tháng hai năm 1975 Kissinger nói với Bộ trưởng Quốc phòng James Schlessinger rằng khi thất bại  –  trong việc đối phó với Khmer Đỏ tại Campuchia … đã như đổ xác người xuống cống.

Ngày 2 tháng 3 năm 1975, Sydney H. Schanberg của tờ New York Times, tường thuật về từ Phnom Penn, Cam-pu-chia, đặt câu hỏi lý do vì sao Hoa Kỳ nên tiếp tục hỗ trợ đồng minh là Chính phủ Lon Nol. Một viên chức Đại sứ quán trả lời, – Nếu phía bên kia nắm quyền, họ sẽ giết chết tất cả các những người có học, các giáo viên, các nghệ sĩ, trí thức, và đó sẽ là một bước lùi trở về với thời man rợ,  Schanberg không tin như vậy. Vì vậy, anh ta viết về quan điểm riêng của mình trong khi vẫn còn hưởng sự an toàn tương đối tại thủ đô Campuchia. Không hề để ý tới chính sách và cách thực hành của hệ thống man rợ từng được biết đến của Khmer Rouge , Schanberg viết rằng tuy – trong khi các phần tử nổi dậy – có thể chỉ đốt cháy toàn bộ nhiều ngôi làng, giết hại và gây tàn phế cho các nông dân không có vũ khí, – thì cách xử sự này đã không là nhất trí và có tính cách toàn quốc. Anh ta đã che dấu các sự thật đáng kinh bằng cách tường thuật là các lực lượng Khmer bị chia ra thành các nhóm Stalin, Mao-ít và quốc gia tranh dành lẫn với nhau. Gần như là đảng Dân chủ và đảng Cộng hòa, các độc giả của anh ta chắc phải nghĩ thế. Các phần tử nổi dậy –  đã có –  mục tiêu chung là lật đổ chính phủ Lon Nol được Mỹ hậu thuẫn, – ngụ ý rằng việc chống đối chủ nghĩa đế quốc cũng không có gì là quá xấu. Một phụ đề đã đăng, – Đối với Nhân Dân, chính chiến tranh  là kẻ thù, 162 Bằng một cách nào đó, đương sự đã không để ý tới làn sóng người Campuchia đang chạy trốn Cộng sản về với đồng minh của Mỹ. Tỏ ra là mình luôn luôn biết ai phạm tội, Sydney Schanberg sau đó quy lỗi cho việc Mỹ đánh bom đã gây ra nạn diệt chủng Campuchia sau đó. Việc ném bom của Mỹ đã làm Pol Pot nổi khùng lên.

Ngày 5 tháng 3, Dân Biểu Otto Passman nói với Kissinger rằng ủy ban của ông còn thiếu  một phiếu bầu để thông qua viện trợ cho Cam-pu-chia. Kissinger nói với Phil Habib, – Rồi sẽ không đi đến đâu và chúng ta sẽ tự vấn lương tâm để khi đi xuống mà đầu vẫn ráng ngẩng lên. 163

Và nhóm Weather Underground, nhằm phản đối việc tái diễn chiến tranh gây ra bởi Sài Gòn và Washington tại Việt Nam, vào ngày 28 tháng giêng đã đánh bom Bộ Ngoại giao Mỹ ở Washington, DC và trong cùng một ngày tại Oakland, California, một văn phòng của Cơ quan Phát triển Quốc tế ( Agency for International Development) .164

Trong khi đó, để giành chiến thắng, Bắc Việt tăng cường thêm khoảng 250.000 binh sĩ vô Nam Việt Nam. Tổng cộng, 418.000 bộ đội xâm nhập miền Nam, 17 sư đoàn tác chiến và một số lượng tương đương trong vai trò hỗ trợ.

Hãy đổ lổi cho Tên Đại Sứ Điên Khùng

Đại sứ Mỹ tại Sài Gòn là Graham Martin cố gắng một cách tuyệt vọng tìm kiếm viện trợ cho miền Nam Việt Nam. Nhân viên CIA Frank Snepp viết trong DecentInterval  là cách thức của Martin đối với Washington là chỉ thẳng mặt các tên Mỹ đang mưu đồ và tuyên truyền cho Hà Nội: “Tom Hayden, Jane Fonda, Fred Branfman và Don Luce của Indochina Resource Center là những tên mà ông đề cập đến một cách thường xuyên nhất. “. FBI và CIA đã không thể cung cấp cho Đại sứ Martin nguồn tin giúp ông chứng minh được cáo buộc của mình chống  các điệp viên Mỹ đang gây ảnh hưởng giúp Hà Nội – nơi nào mà chúng đã nhận được tiền trả cho chúng. Theo Snepp, không ai chịu nghe Đại sứ Martin, ngay cả khi ông mô tả đó cũng một chiến thuật tuyên truyền mà Bắc Việt đã dùng để chống lại Pháp.165 Ngay cả cựu Chủ tịch Hành Pháp Trung Ương Nam Việt là Nguyễn Cao Kỳ cũng tin rằng việc hầu như ai cũng ghét Đại sứ Martin đã khiến các yêu cầu cuối cùng của Sài Gòn để được hỗ trợ trở nên tuyệt vọng. Martin đã bác bỏ mạnh mẻ lập luận của các kẻ mà ông cho là cản trở đường tiến. Trong những ngày cuối cùng của một cuộc chiến tuyệt vọng, Đại sứ Martin đã không còn xử sự một cách ngoại giao nữa.

Vào ngày 6 tháng 3 năm 1974, Đại sứ Graham Martin viết một bức điện gần 20 trang tấn công phóng viên David Shipler của New York Times, gọi việc làm của y – là một sự việc có thể dùng để nghiên cứu về công tác tuyên truyền che dấu dưới chiêu bài điều tra báo chí . Shipler không báo cáo các hành vi vi phạm Hiệp định Paris của Việt Công . Mặc dù đứng trưóc một cuộc xâm lược từ Bắc Việt, Shipler, giống như bọn vận động hành lang phản chiến, đã tường trình là chỉ có một bên tiến hành chiến tranh, Nam Việt . Thiệu có bác bỏ các cuộc bầu cử, nhưng Shipler cũng không đề cập đến việc là từ năm 1954 cộng sản đã từ chối bất kỳ cuộc bầu cử nào mà được quốc tế giám sát. Shipler biện bạch cho việc Bắc Việt sử dụng pháo hạng nặng và cũng không báo cáo sự kiện Cộng sản tập trung pháo vào đám đông thường dân đã bị mắc kẹt hay đang chạy trốn. Martin nhận xét là tường trình của Shipler không chỉ là tuyên truyền, và là phong trào phản chiến đang phối họp các nỗ lực của chúng thông qua Hội nghị Stockholm bị kiểm soát bởi Liên Xô và thông qua các đại diện của Hà Nội ở Paris. 166 Cục quốc tế của Đảng Cộng sản Liên Xô tài trợ cho Hội nghị Stockholm 15 triệu $ mổi năm. 167

Khi George Webber, chủ tịch của New York Theological Seminary thất bại không liên lạc được với cộng sản ở Sài Gòn để yêu cầu họ ngưng lại chính sách khủng bố, theo như lời yêu cầu của Đại sứ Martin, Martin đã gởi qua bưu điện cho Webber một hộp đầy hình ảnh của các trẻ em bị tàn phế. – … Nhưng do quyết định của ông … những đứa trẻ này khã dỉ có thể vẫn còn sống.  Cả hai thư gởi cho Shipler và Webber đều bị tiết lộ ra cho báo chí. 168 Thành ra, cung cách cư xử không đẹp của Martin mới đáng trở thành là những bản tin, còn việc Cộng sản tàn bạo thì chắc chắn không đáng đã tin để tường thuật . Và hầu hết tất cả mọi người đều cũng đã biết từ nhiều năm nay xuyên qua tuyên truyền của Hà Nội cung cấp bởi các tên phản chiến Mỹ rằng chính Mỹ đã giết trẻ em tại Việt Nam. Việt Cộng yên lành qua cơn sóng gió.

Hình bên: Bích chương tuyên truyền của Hà-nội N.D.: "Bạn sẽ có dám đốt cháy một trẻ em? Khi nếu cần"

Vào tháng 3 năm 1975, cộng sản Khmer Đỏ tại Campuchia và quân đội của Hà Nội ở miền Nam Việt Nam chỉ cần vài tuần nữa để chiến thắng. Jane Fonda thì đang ở tại Moscow và đã đánh hơi được cái “mùi của tự do” mà đã y thị đã từng thưởng thức trong một cuộc diễu hành quân sự của Liên Xô vào ngày May Day năm 1964 với người tình Pháp và cũng là người chồng đầu tiên của y thị, Roger Vadim. Trong thời gian ở Liên Xô, Fonda vẫn tiếp tục chỉ trích kịch liệt Nam Việt Nam và Mỹ. “Không phải là ở Liên Xô mà quyền tự do dân sự bị vi phạm nhiều nhất”, y thị  tuyên bố, “nhưng mà là ở miền Nam Việt Nam”.

Y thị nói với tờ Literaturnaya Gazeta của Liên Xô , rằng y thị “muốn nhân cơ hội này cảm ơn nhân dân Liên Xô về sự hỗ trợ mà họ đang giúp Việt Nam.” Tom và Jane đã hoạt động trong nhiều năm để bảo đảm rằng nước Mỹ (“kẻ thù chung”) sẽ không còn hỗ trợ cho Nam Việt Nam hoặc Campuchia. Tháng 3 năm 1975, giáo sư Gabriel Kolko được mời đến Hà Nội – ngay lập tức, – để được tham vấn về kinh tế của miền Nam Việt Nam. Chăc có lẽ lúc đó y cùng đi xe chung với bộ đội Bắc Việt  mà đang xâm chiếm miến Nam. Kolko đã trải qua bốn ngày cuối cùng của chiến tranh (ngày 26 tới 30 tháng 4 năm 1975) ở miền Nam Việt Nam, tại Huế và Đà Nẵng. Sau đó thì Kolko đã cố vấn kinh tế cho Hà Nội từ Paris. Vợ y và y đã trở lại Việt Nam nhiều lần vào năm 1976, 1981, 1983 và 1987, và ngày càng vỡ mộng về việc lại có một quốc gia cộng sản khác đã không thành lập được cái xã hội chủ nghĩa không tưởng. 169

Ngày 7 tháng 3 năm 1975 Tổng thống Ford tổ chức cuộc họp báo cứu nguy cuối cùng để  xin 222 triệu Mỹ kim viện trợ cho Cam-pu-chia và Việt Nam. – Tôi muốn nói được rằng việc tàn sát sẽ chấm dứt nếu chúng ta ngưng viện trợ. … Nếu chúng ta từ bỏ đồng minh của chúng ta, điều đó có nghĩa là chúng ta sẽ nói với tất cả các thế giới rằng chiến tranh phải được trả giá. Khi được hỏi về sự thờ ơ của công luận, Ford đã nói , – … Chúng ta đã thấy những câu chuyện kinh tởm. Việc sử dụng bừa bãi của các phi đạn tại  … Phnom Penh, trẻ em bị thương nằm la lết trên đường phố … Khi được hỏi liệu chăng  viện trợ của Mỹ sẽ tiếp tục gây ra đổ máu, Ford đã lưu ý là mục tiêu của Khmer Đỏ không chỉ là giáo viên và các quan chức, mà luôn cả những người vô tội. Ford muốn tránh một cuộc thảm sát. Vẫn giữ lịch sự ngay trong thời chiến, Tổng thống Ford từ chối quy tội cho ai đã làm mất Đông Dương, – các sự kiện cũng đủ nói lên sự thật.  170

Ngày 17 tháng 3, tờ Chicago Tribune tường trình câu chuyện của Cha Robert Gehring về một cuộc tấn công của Khmer Đỏ vào một trại tị nạn của Sở Cứu Trợ Công Giáo (Catholic Relief Services). – Chúng đã đâm xuyên dọc thân hình các trẻ em và rồi đóng đinh các xác này lên tường các tòa nhà. … Nhiều bà mẹ đã hóa điên ngay lập tức. 171 Thượng nghị sĩ Mike Mansfield tuyên bố rằng vị bạn tốt của ông là Hoàng tử Sihanouk đã nói với ông ta là nếu Khmer Đỏ chiến thắng thì họ sẽ không trả thù. 172  Trong một bức thư ngày 24 tháng 3 năm 1975, dân biểu Pete McCloskey (Cộng hòa-California), một kẻ chống chiến tranh từ lâu nay, sau một chuyến viếng thăm Cam-pu-chia, khi trở về đã chấp nhận quan điểm về các cuộc tắm máu và hỗ trợ cho việc bổ sung viện trợ quân sự cho chính phủ Lon Nol. Sokhom Hing, một điệp viên của Khmer Đỏ và cũng là thành viên trong chiến dịch Hòa Bình Đông Dương của Hayden-Fonda, đổ lỗi cho các cuộc thảm sát là do Lon Nol và các cuộc oanh tạc của B-52 đánh xuống lực lượng Khmer Đỏ đang tiến quân. Người tị nạn thì lại chạy trốn mà không nhảy ùm vào vòng tay của quân đến giải phóng họ, nhưng lại là về phía chính phủ Lon Nol và các người Mỹ. 173 Các vụ tắm máu trong quá khứ và hiện tại không làm Quốc hội thay đổi ý kiến. 174

“Chỉ Không Đáng Gì”

Trong khi Jane đang vui hưởng chuyền đi Moscow của y thị, lực lượng chính quy Bắc Việt tấn công Ban Mê Thuột, một thành phố trên cao nguyên với dân số 90.000 người, ngay trung tâm của miền Nam Việt Nam. Ngày 11 tháng 3, 1975 Ban Mê Thuột thất thủ. Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu của Nam Việt đã không có nhiều lựa chọn. Ngày 14 tháng 3, ông rút QLVNCH từ Tây Nguyên (Pleiku) để về tái phối họp ngõ hầu lập lại một tuyền phòng thủ vững chắc đóng chốt tại thành phố ven biển Tuy Hòa. Tổng Thống Thiệu hy vọng việc rút lui chiến lược này sẽ cho phép miền Nam Việt Nam đứng trụ lại và ngăn chặn được làn sóng tấn công dữ dội của Bắc Việt tại tuyến phòng thủ mới này. Để củng cố quyết địng dồn quân trên tuyến Tuy Hòa, ông cũng quyết định việc rút quân dài tới 300 dặm về phía nam dọc bờ biển Đông,  từ phía bắc của Huế, qua Đà Nẵng, Chu Lai, và Bình Định. Việc này quả đã gây ra một thảm họa.

Lệnh rút lui của Thiệu suốt dọc 300 dặm từ các thành phố duyên hải phía bắc và Tây Nguyên trở thành một việc tháo chạy hổn loạn của một quân đội mất tinh thần xen kẽ với số người tị nạn thường dân đầy kinh hãi. Bắc Việt đã cố tình pháo giết cả thường dân lẫn quân nhân với súng cối, súng trường, và các xe tải Molotova Nga, trải đầy  đường số 7 dẫn về Tuy Hòa với hàng đống xác chết  – trên Đoàn xe của Nước Mắt (Convoy of Tears) .  175  Kissinger đã kể lại với Schlesinger, – việc sụp đổ này đã thực sự do chúng ta gây ra . …  cơn kinh hoàng , – và ngay sau đó, theo phóng viên David Binder, – Có thể rồi họ sẽ sụp đổ nhưng chính chúng ta đã gây ra nó. 176

Pháo binh của Bắc Việt đã giết luôn cả thường dân đang trốn chạy – phụ nữ và trẻ em – cũng như những chiến sĩ QLVNCH. Chúng bắn vào và – nghiền nát ra từng mảnh nhỏ 200.000 binh lính và dân thường hoảng sợ đang chạy trốn, tàn sát cả phụ nữ và trẻ em trong các đoàn xe bị khựng lại trên đường chạy trốn khỏi Tây Nguyên qua Quốc lộ 21, một – Đoạn Đường của Nước mắt (Trail of Tears), nơi mà phân nữa của số đã bỏ mình. 177 Ở phía Bắc, hàng trăm ngàn người chạy trốn từ Quảng Trị và Huế về Đà Nẵng, nơi có tới 50.000 người đã chết. Mẹ của Thủ tướng Bắc Việt Phạm Văn Đồng đã không bị lừa gạt bởi sức lôi cuốn của các lời hứa hẹn êm ấm của con trai bà. 178 Tên họ Phạm đã từng lừa một số lớn khách thăm phản chiến người Mỹ, bằng cách gọi họ là đồng chí cùng chiến tuyến, nhưng mẹ của y biết rỏ con ác quỷ núp sau nụ cười quyến rũ của con trai của mình.

Khi đi Hà Nội, Larry Levin, tên Giám đốc nhân viên của Liên minh U.S. Coalition to Stop Funding the War do Tom Hayden bổ nhiệm , đã phỏng vấn Xuân Thuỷ, Trưởng ban Hòa đàm Ba Lê. Nhằm phản biện lại sự kiện số đông dân Nam Việt đã quyết định chạy trốn khỏi quê hương của họ, Thủy đã cáo buộc – việc áp buộc di tản … (Chính phủ Hoa Kỳ) … gọi là giải cứu người di tản ‗ “Đây chỉ là một trò lừa bịp với mục đích nhằm làm xôn xao dư luận thế giới và tự cung cấp lý do để can thiệp vào Việt Nam. 179 Ngày 20 tháng 4, Đài phát thanh giải phóng của Việt Cộng lặp lại chủ đề tuyên truyền của Hà Nội: các giới chức cầm quyền Mỹ đã đưa hàng không mẫu hạm Enterprise và Coral Sea … dưới chiêu bài di tản. Các hành vi này – vi phạm nghiêm trọng Thỏa ước Ba Lê … với mục đích nhằm hỗ trợ phe nhóm Nguyễn Văn Thiệu … 180 Trong thực tế, hiệp ước Paris vào tháng giêng năm 1973 không đòi hỏi phải lật đổ Thiệu và mặc nhiên xem như dân chúng Nam Việt sẽ không quyết định số mệnh của mình bằng súng ống. Thật vậy, Nam Việt có quyền nhận tiếp liệu quân sự để tự bảo vệ chống lại cuộc xâm lược của Bắc Việt.

Trong khi đó, vào ngày 13 tháng 3 năm 1975, đợt tuyển mộ thứ tám của Lữ đoàn Venceremos rời Cuba với 125 tới 135 thành viên mới người Mỹ, 181 là rường cột cho một cuộc Cách mạng Xã hội chủ nghĩa Mỹ trong tương lai.

Planet CIA, một Ước lượng Tình báo quốc gia đặc biệt vào ngày 27 tháng 3 năm 1975 đã có ý kiến, – Các yếu tố hậu cần … có thể sẽ cản trở một cuộc tấn công chớp nhoáng vào Sài Gòn bởi vì cộng sản không có đủ tiếp liệu sẳn sàng ở các vị trí tiền phương.  182 Henry Kissinger thì lại thấy tình hình phát triển một cách nhanh chóng  và khẩn cấp hơn, – Chúng tôi không muốn rút ra khỏi Việt Nam bằng cách bắn vào các người tỵ nạn đang trốn chạy.

Ngày 31 tháng 3 năm 1975, trong khi  Nam Việt đang chống đở các đơn vị pháo binh và thiết giáp xâm lăng của Bắc Việt thì viên  lãnh tụ Phật giáo từng được thế giới hoan nghênh là Thích Trí Quang, cư xử y hệt một điệp viên hay cũng có thể là một tên bị bịp, đã đòi hỏi Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu phải  từ chức.

Cả Tổng Thống Ford lẫn Thiệu cùng tiếp tục cầu xin với Quốc hội khoản cứu trợ quân sự khẩn cấp cho Nam Việt, nhưng vào tháng 3, đảng Dân chủ thuộc Hạ Viện bỏ phiếu 189-49 chống lại mọi viện trợ cho Việt Nam hoặc Campuchia. Việc Quốc hội hỗ trợ cho chiến tranh đã đạt đỉnh cao vào năm 1969, và vào các năm 1973-74 ngân sách chiến tranh, sau khi điều chỉnh theo lạm phát, đã là bốn phần trăm của con số cao nhất trong năm 1969, và tới 1974-75 ngân sách chiến tranh chỉ còn là một phần bủn xỉn bằng chỉ với một phần trăm của mức năm 1969. Các dân biểu hoặc là dửng dưng hoặc là chống lại các lời kêu gọi cuối cùng vào năm  1975. Chính cái Quốc hội từng cắt rồi bỏ chạy của nhiệm kỳ 1972-1976 đã nhổ nước bọt vào mặt các Cựu chiến binh Việt Nam, đã bỏ rơi các đồng minh Việt Nam, đã phản bội và làm mất tinh thần nhân dân miền Nam Việt Nam, và đã không cho họ vũ khí, đạn dược, và ngay cả băng cứu thương. Phong trào phản chiến thân Hà Nội đã bao che Quốc hội về phương diện chính trị.

Lê Đức Thọ, kẻ từng từ chối phần của mình trong giải Nobel Hòa bình do việc ký kết các định Hòa bình Paris vào tháng Giêng năm 1973, nay về gia nhập các tên chỉ huy của các Quân Đoàn Bắc Việt và bộ đội trong cuộc tấn công quân sự cuối cùng vô Sài Gòn.

Kẻ thù có 5 sư đoàn để chống lại 15 sư đoàn của chúng ta. Như vậy chúng takhông thể nào mà không chiến thắng. … Mọi công bố chính thức của Hoa kỳ đềuloại trừ khả năng . . .  tái can thiệp của Mỹ. … Chúng ta phải … một cách nhanh chóng và vững chắc tiến hành công việc của chúng ta. 183
Một quân nhân mà cũng là học giả, Robert F. Turner đã nói, – các chính trị gia theo khuynh hướng tự do như J. William Fulbright, Frank Church, Edward Kennedy, Robert Packwood, Claiborne Pell và Clifford đều xứng đáng để chia xẻ một phần lớn trách nhiệm  … [cho việc thất bại trong cuộc chiến tranh tuyên truyền] cùng với một giới báo chí cực kỳ ngu dốt và vô trách nhiệm. 184
Tổng Thống Thiệu đã đọc đi đọc lại trong tuyệt vọng các thư bí mật nhận từ cựu Tổng thống Richard Nixon mà đã cam kết sẽ có viện trợ quân sự cho dù bất kỳ việc gì sẽ xẩy ra. Thật vậy, Hiệp Định Paris 1973 đã cam kết – thay thế viện trợ quân sự không giới hạn cho Nam Việt.185 Nixon đã từ chức và Gerald Ford thì lại thiếu quyết đoán.

Tổng thống Ford thì đi chơi ‘golf’ dưới nắng ấm mặt trời tại Palm Springs; CIA thì cung cấp lời khuyên về việc cải thiện tuyên truyền của miền Nam Việt Nam; Kissinger thì tự hỏi vì sao bọn Việt Nam không “chết cho nhanh … [và không] cứ lây lất mãi;” còn Nam Việt thì cứ cầu xin một cách vô vọng các cuộc không tập bởi B-52. Để chối từ các cuộc không tập do B-52, và vì hiểu lầm các đám đông hung dữ như là công luận Mỹ, Kissinger đã nói, “Nhân dân Mỹ sẽ xuống đường một lần nữa.” 186 Tom Hayden và Jane Fonda thì đang nghiên cứu một bản đồ lớn “đầy với kim dùng để đánh dấu và các vạch mực cho thấy các mủi di chuyển quân.”  187 Bắc Việt đã cung cấp thông tin chiến trường cho Tom Hayden kể từ năm 1965.

Đến cuối tháng 3, Nam Việt vẫn chiến đấu một cách cương quyết, nhưng QLVNCH bị cạn dần về hỏa lực, phụ tùng thay thế, máu, băng cứu thương và luôn về tinh thần. Cuối cùng, toàn bộ tuyến phòng thủ thành lập từ các lực lượng rút quân về dọc các thành phố ven biển bị sụp đổ trước sức tấn công của BắcViệt . Trong vòng năm ngày, vào ngày 25 tháng 3, Huế và Chu Lai về phía bắc bên bờ phía nam của vùng phi quân sự thất thủ. Ngày 30 tháng 3, đến phiên Đà Nẵng.

Tổng Thống Thiệu chuẩn bị một tuyến phòng thủ từ Đông sang Tây (từ ven biển Nha Trang chạy tới Tây Ninh), 100 dặm về phía bắc của Sài Gòn. Điều đó cũng là vô ích. Chỉ trong năm ngày nữa, ngày 2 tháng 4, Qui Nhơn thủ phủ của tỉnh Bình Định thất thủ. Ngày 3 tháng 4, Tuy Hòa, Nha Trang, vịnh Cam Ranh thất thủ. Chỉ còn có Sài Gòn và đồng bằng phía Nam là vẫn còn chưa bị xâm chiếm. Ngày 5 và 6 tháng 4, Sylvia Kushner thuộc tổ chức công khai cộng sản là  Chicago Peace Council triệu tập một Hội nghị Quốc gia nhằm cổ võ cho một việc cắt giảm sâu đậm về chi tiêu quân sự tại khách sạn LaSalle ở Chicago. Dân Biểu Ron Dellums, kẻ đã cung cấp văn phòng tài trợ do tiền thuế  của dân cho Indochina Peace Campaign của Tom Hayden và Jane Fonda nhằm cắt bỏ viện trợ Mỹ cho Đông Dương, đã nói, – Hội nghị … sẽ nói với hàng trăm ngàn người thuộc phong trào đầy cảm hứng nhằm chống cuộc chiến Đông Dương. Các dân biểu Ralph Metcalfe, Bela Azbug, Les Aspin, và Abner Mikva đã tham dự Dellums. 188

Chiến Thắng Cuối Cùng

Ngày 7 tháng 4, một người đàn ông nhỏ con với mái tóc màu xám, nhà ngoại giao và cùng từng được đề cử cho giải Nobel hòa bình với Henry Kissinger, đã đích thân giao tận tay các mệnh lệnh quân sự của Hà Nội đến bộ chỉ huy Việt Cộng COSVN. Lệnh là phải bám sát vô Sài Gòn. Do đó, Lê Đức Thọ, tay đàm phán hàng đầu của Hà Nội, đã liền chứng minh một lần cuối cho tiến trình phối họp hoàn hảo của một mặt trận vừa chính trị, vừa ngoại giao và luôn trên chiến trường để phục vụ cho một chiến lược thành công của chiến tranh cách mạng. Ngày hôm sau, Bert Schneider nhận được giải Academy Award cho bộ phim tài liệu hay nhất, Hearts và Minds, một bộ phim nói rằng nước Mỹ chỉ thuần túy là kỳ thị chủng tộc và quân phiệt. Bert Schneider đã nói: – Thật là mỉa mai khi chúng ta lại đang ở đúng vào lúc mà Việt Nam sắp được giải thoát.  Schneider đã đọc bức điện chúc mừng từ những người Cộng sản Việt Nam tại Paris. Cử tọa Hollywoodcùng đứng lên vổ tay hoan nghênh quân giải phóng, các kẻ thù và các nhân viên người Mỹ của chúng. Tướng Westmoreland nói mỉa mai lớn nhất là Mỹ thì đòi hỏi Sài Gòn phải dành cho được tình thương cùng lòng tin của người dân trong khi Hà Nội thì lại đi chinh phục con tim và khối óc của những người  – chịu trách nhiệm chính lúc ban đấu về việc chúng ta tham chiến. [các nhà lãnh đạo chính trị.] 190 Angelo Codevilla đã nói là trái tim và lòng tin của người Việt Nam quả đã dành được, vì họ luôn luôn chạy trốn về phía nam, trong khi cuộc chiến đấu dành trái tim và khối óc của các tầng lớp ưu tú người Mỹ thì – trong phòng khách các đại học … [và] … trong những phòng trải thảm chứ không phải là trong rừng . 191

***********
Chú thích:

138 Ronald Yates, ― Linh mục quyết không rời các người tỵ nạn bất kể hăm dọa của Khmer Đỏ, Chicago Tribune, 17 tháng 3 năm 1975, 14.

139 Chanda, Nayan. Brother Enemy: The War After The War. Harcourt Brace Javanovich xuất bản, New York. 1986. 1. 

140 Tại Moscow vào ngày 11 tháng 11 năm 1974,  Bắc Việt Nam và Liên Xô ký kết một thỏa thuận về hợp tác khoa học và văn hóa, và vào ngày 11 tháng 12 năm 1974,  thỏa thuận về viện trợ kinh tế và kỹ thuật.

141 KRASNAYA ZVEZDA BÁO CÁO KÊT QUẢ CHUYẾN THĂM CỦA KULIKOV, Moscow KRASNAYA ZVEZDA bằng Nga ngữ ngày 28 tháng 12 năm 1974 p I LD

142 Valerian Skvortsov, ― Giúp đở từ Bạn Bè, PRAVDA BÌNH LUẬN VỀ VIỆN TRỢ CỦA LIÊN XÔ CHO CỘNG HÒA NHÂN DÂN VIỆT NAM VỀ TÁI THIẾT, Moscow PRAVDA bằng Nga ngữ ngày 11 tháng chạp năm 1974 p 5 L. 

143 18 tháng chạp năm 1974 và 8 tháng giêng năm 1975.

144  Điện tín gởi từ Tòa Đại sứ tại Việt Nam về Bộ Ngoại giao,  Sài-gòn, 8 tháng giêng năm 1975, 1230Z trong Văn khố Quốc gia, RG 59, Central Foreign Policy Files,Mật: Tức thì. 

145 Coalition to Stop Funding the War, ―1975: Will Peace Come to Indochina?Legislative Update, 14 tháng giêng năm 1975. 
146 John M. Del Vecchio, ―Cambodia, Laos and Viet Nam? The Importance of Story Individual and Cultural Effects of Skewing the Realities of American Involvement in Southeast Asia for Social, Political and/or Economic Ends, 1996 Vietnam Symposium “After the Cold War: Reassessing Vietnam,” 18-20 tháng 4 năm  1996.

147 Armond Noble viện dẫn Douglas Pike từng kêu gọi vào giữa thập niên 60 – Các hành vi tàn ác xẩy ra hàng ngày đến mức chúng không còn được đáng xem  là tin tức. Năm 1988 Pike kể với Noble, ―Có thể tôi đã nói vậy, nhưng tôi không nhớ.

148  Phóng viên kiêm nhiếp ảnh viên tuần báo Time kể lại cho tác giả vào ngày 27 tháng 3 năm 2011. 

149 Đại tá  Harry G. Summers, Jr., America’s Bitter End in Vietnam. Đó đã là  Trận chiến Việt Nam nhìn dưới kính hiển vi . . . Thiện ý bị phá nát tan vì thi hành sai sau đó.http://www.historynet.com/wars_conflicts/vietnam_war/3030666.html?showAll=y&c=y

150 Coalition to Stop Funding the War, ―1975: Will Peace Come to Indochina?Legislative Update, 14 tháng giêng năm 1975.

151 Đại tá  Harry G. Summers, Jr., America’s Bitter End in Vietnam. Đó đã là  Trận chiến Việt Nam nhìn dưới kính hiển vi . . . Thiện ý bị phá nát tan vì thi hành sai sau đó .http://www.historynet.com/wars_conflicts/vietnam_war/3030666.html?showAll=y&c=y 

152 Tướng Võ  Nguyên Giáp, How We Won the War, Philadelphia: RECON Ấn bản, 1976, 28 nguyên từ tờ  Nhân Dân và Quân Đội Nhân Dân, 31 tháng 6 và 1 tháng 7 năm 1975 và như  “A New Development of the Art of Leading a Revolutionary War, Vietnam Courier, tháng 8 và 9 năm 1975.

153 Đề đốc Elmo R. Zumwalt, Jr., Vietnam War Symposium, Texas Tech University, 18 tháng 4 năm 1996 viện dẫn bởi Lewis Sorley trong A Better War: The Unexamined Victories and Final Tragedy of America‘s Last Years in Vietnam, New York: Harcourt, 93-94.

154 Max Friedman gởi cho Canfield và mấy người khác, 26 tháng 11 năm 2008. 

155 David Binder, New York Times  30 tháng giêng năm 1975; Wallace Turner, New York Times 30 tháng giêng năm  1975.

156 Andy Messing kể cho tác giả, 21 tháng 10 năm 2007.

157 Băng thu cuộc nói chuyện qua điện thoại của Kissinger, TELCON 14 tháng 4 năm  1975,  9:47 p.m. Connolly/The Secretary.  

158 Assembly to Save the Peace, ― Thơ Mời Tham Dự Hòa Bình (Peace Convocation)  vào ngày 26 tháng giêng năm 1975; Assembly to Save the Peace, ― Hội thảo vào ngày thứ 7,  25 tháng giêng năm 1975; Assembly to Save the Peace, ― Lịch trình điều chỉnh, 25 tới 29 tháng giêng năm 1975. Mọi phóng ảnh từ bản chính do Max Friedman.

159 Coalition to Stop Funding the War, ―1975: Hòa bình sẽ tới Đông Dưong hay không? Legislative Update, 14 tháng giêng năm 1975.

160  Thu băng cuộc nói chuyện điện thoại của Kissinger, TELCON, 2/9/75 1:50 p.m., Kissinger/Conte.

161 Thu băng cuộc nói chuyện điện thoại của Kissinger, TELCON, 2/22/75 5:37 p.m. Walt Rostow/Kissinger. 

162 Sydney Schanberg, ―For the People, War Itself Is the Enemy: The ‗Enemy‘ Is Red, Cruel and after 5 Years, Little Known, New York Times, 2 tháng 3 năm 1975.

163 Thu băng cuộc nói chuyện điện thoại của Kissinger, TELCON,  3/5/75 8:56 a.m. Kissinger/Cong. Otto Passman, TELCON 3/5/75 9:02 a.m. Kissinger/Habib. 

164 FBI, FOIA, Weather Underground. Nguồn tin chính là phúc trình Đương nhiệm  SAC Chicago gởi cho Giám đốc ―Foreign Influence-Weather Underground Organization, 20 tháng 8 năm 1976, 185.

165 Canfield, Roger New American, tháng 4 năm 1985; Bùi Tín, Wall Street Journal, 1995. 

166 Phái viên đã đả kích tờ  New York Times  là tường thuật sai lầm về Việt nam, AIM REPORT, Accuracy in Media, Bộ III, Số  4, tháng 4 năm  1974, 1.

167 Ion Mihai Pacepa, ―Kerry‘s Soviet Rhetoric (The Vietnam-era antiwar movement got its spin from the Kremlin),  National Review, 24 tháng 2 năm 2004.

168 Nguyễn Cao Kỳ, How We Lost… 207-208; George Webber và Graham Martin, 1974, tài liệu của Catholic Peace Fellowship, University of Notre Dame Archives, CCPF 10/05 Folder. 

169 Gabriel Kolko, Vietnam: Anatomy of a Peace, London: Rutledge, 1997, 16-17.

170  Biên bản họp báo của Tổng Thống … New York Times, 7 thang 3 năm 1975, 16.

171 Ronald Yates, ―Linh mục quyết không rời các người tỵ nạn bất kể hăm dọa của Khmer Đỏ, Chicago Tribune, 17 tháng 3 năm 1975, 14.

172 Bill Laurie nói với  Canfield và nhiều người khác, 13 tháng giêng năm 2009. 

173 Cambodia ‗Falls‘ to Cambodians, Rochester Patriot, 9-22 tháng 4 năm 1975 in lại trong tờ Syracuse Peace Council, Peace Newsletter, tháng 5 năm1976 SPC 707.

174 Leslie Gelb, ―Fear of Cambodian Bloodbath Seen Key to Senate Vote on Aid,‖ New York Times, 13 tháng 3 năm 1975, 18.

175 Denis Warner, Certain Victory, 60-63 được viện dẫn bởi James Banerian và  Vietnamese Community Action Committee, Losers Are Pirates: A Close Look at the PBS Series ―Vietnam: A Television History, Phoenix: Tiếng Mẹ Zxu1ât bản, 1984, 260

176 Thu băng điện thoại của Kissinger, TELCON  2 tháng 3 năm 1975 6:12 a.m. Kissinger/Schlesinger; TELCON  1 tháng 4 năm 1975, 3:00 p.m. Kissinger/David Binder. 

177 Trung Tướng Harold G. Moore (Hồi hưu) and Joseph Galloway, We Are Soldiers Still, New York: Harper Collins, 2008,148.
78 Denis Warner, Certain Victory, 75 viện dẫn trong  James Banerian và Vietnamese Community Action Committee, Losers Are Pirates: A Close Look at the PBS Series ―Vietnam: A Television History, Phoenix: Nhà xuất bản Tiếng Mẹ, 1984, 262. 

179 Xuân Thủy do (Larry) Levin (IPC) phỏng vấn, Hà-nội, VNA chương trình Anh ngữ  15:44 GMT ngày 16 tháng 4 năm 1975, BK.

180 Hoa kỳ đã vi phạm Hiệp ước Ba Lê khi đưa tàu đến, Đài Giải phóng (bất hợp pháp) bằng tiếng Việt tại Nam Việt,  03:00 GMT ngày 20 tháng 4 năm 1975 SG.

181 FBI, FOIA, Weather Underground. Nguồn tin chính là phúc trình Đương nhiệm  SAC Chicago gởi cho Giám đốc ―Foreign Influence-Weather Underground Organization, 20 tháng 8 năm 1976, 246.

182 SNIE 53/14.3-75, 27 tháng 3 năm 1975, 3. 

183 Tiếp tục sách Đại Thắng Mùa Xuân của Tướng  Văn Tiến Dũng, như phóng viên tờ  Nhân Dân đã viết, phần về Nhanh như Sấm sét,‘phụ đề, ―Chiến dịch mang tên bác Hồ. Tại Hanoi chương trình tiếng Việt 23:30 GMT ngày 3 tháng 5 năm 19 76 như đã viện dẫn trong FBIS, Vol. IV: Asia and Pacific,  ngày 5 tháng 5 năm 1976, K8-10, kể lại trong sách của Harold W. Rood, Kingdoms of the Blind: How the Great Democracies Have Resumed the Follies That Nearly Cost Them their Life, St. Petersburg: Nhà Xuất bản Hailer, 2005, 243N43.

184 Robert F. Turner, ―The Fonda Fallacies, 24. 

185 James Webb, – Ngủ chung với Địch, TheAmericanEnterprise.org, 4/3/2003.

186 Nguyễn Tiến Hưng, Hồ sơ Dinh Độc Lập, 304.

187 Peter Collier, The Fondas: A Hollywood Dynasty (New York: Putnam, 1991) như đã viện dẫn trong sách của K. L. Billingsley, “All in the Family,” California Political Review (Mùa Đông 1991),27. 

188 Tường trình cho Tiểu ban An ninh Quốc nội Thượng viện, The Nationwide Drive Against Law Enforcement Intelligence Operations, phần 2, 14 tháng 7 năm 1975, 179.

189 James Webb, – Ngủ chung với Địch, TheAmericanEnterprise.org,  30 tháng 4 năm 2003, 2-3. Cũng từ Webb, ―Peace? Defeat? What Did the Vietnam Protesters Want? diển văn đọc tại American Enterprise Institute,jameswebb.com/articles/variouspubs/aeiprotesterswant.htm

190 Tướng William C. Westmoreland, A Soldier Reports, New York: Dell, 1976, 548.

191 Angelo Codevilla, Political Warfare…trong sách của  J. Michael Waller, Strategic Influence: Public Diplomacy, Counterpropaganda, and Political Warfare, Washington: The Institute of World Politics, 2009, 210. 

(còn tiếp)

Trí Nhân Media



Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét