Nối gót người xưa

…. nối gót người xưa
Vì hiểm họa mất nước cùng những khổ đau không ngừng của dân tộc, vì những xót xa quằn quại triền miên của quê hương, vì những máu xương đổ xuống để tạo dựng những trang sử oai hùng đánh đuổi ngọai xâm của tiền nhân, của cha anh, của bè bạn,
Chúng Ta
Hãy đứng lên nhận lãnh trách nhiệm
Hãy đạp lên những sợ hãi mà cùng nhau bước tới, bước tới. Đọc tiếp

TÀI LIỆU header


TÀI LIỆU

Date

TÂM THƯ TỪ LỰC LƯỢNG DÂN TỘC QUẬT KHỞI


_____________________________




VỀ BỐ CÁO “KHÔNG TIẾP NGƯỜI NHẬT, NGƯỜI PHI, NGƯỜI VIỆT NAM VÀ CHÓ”

Nguyễn Thu Trâm
27-2-2013

Gần đây, một nhà hàng bán thức ăn nhanh "Snacks Bắc Kinh", gần khu vực tử cấm thành của Trung Cộng dán một bố cáo với nội dung  là "Cửa hàng này không tiếp người Nhật - Người Philippines - Người Việt Nam và CHÓ". Bố cáo đó đã được một người Mỹ gốc Hoa chụp lại và phổ biến trên mạng xã hội vào ngày 22 tháng 02 vừa qua, đã gây bất bình và phẫn nộ không chỉ riêng ở Việt Nam, mà cả Nhật Bản và Philippines. Đối với những người có lòng tự trọng dân tộc, thì bố cáo đó là một đại xúc phạm danh dự dân tộc, khó có thể bỏ qua.

Ngoại trừ giới lãnh đạo đảng và nhà nước cộng sản Việt Nam, vốn quen luồn cúi, bợ đỡ, ăn mày và nô lệ Trung cộng ngót một thế kỷ qua, nên họ dững dưng, vô cảm trước sự xúc phạm đó của tên doanh gia Tàu Phù, còn lại thì mọi người dân Việt Nam, không một ai lại không cảm thấy phẫn nộ trước cách hình thức lăng nhục dân tộc Việt Nam một cách khốn nạn của tên tàu phù khốn kiếp này.

Tuy nhiên, việc người Tàu khinh bỉ dân Việt không phải là chuyện mới mẻ gì mà từ xa xưa, người Tàu từ xa xưa vốn đã tự đại dân tộc, tự xem mình là trung tâm của vũ trụ, rằng mọi tinh hoa của nhân loại đều phát nguyên từ đất nước này nên mới tự đặt cho mình cái tên Trung Hoa, hay Trung Quốc. Còn lại, đối cới các dân tộc khác, người Tàu đều xem như là man di mọi rợ. Tộc người Bách Việt ở Phía Nam sông Dương Tử bị gọi là Nam Man, tộc người Triều Tiên và Nhật Bản ở phía Đông thì bị gọi là Đông Di. Nghĩa là, cứ không thuộc tộc người ở Trung Nguyên thì đều là Man Di, Mọi Rợ.
                            
Ấy vậy mà suốt 1.000 năm bắc thuộc, cùng với chính sách cai trị vô cùng bạo ngược, người Hán đã tìm đủ mọi cách để đồng hóa giống dân Bách Việt, nhưng mọi nổ lực đều thất bại bởi ý chí quật cường của dân Bách Việt.

Với chính sách ban giao của hai đảng cộng sản Trung Quốc và Việt Nam hiện nay, với sự nhược hèn của lãnh đạo đảng và nhà nước cộng sản Việt Nam hiện nay, người ta e rằng Việt Nam sẽ phải rơi vào thời kỳ Bắc Thuộc lần thứ năm là diều khó tránh khỏi. Với 4 lần Bắc thuộc kéo dài ngót 1.000 năm, những rồi Việt Nam vẫn giành được độc lập, vẫn giữ vẹn quốc túy quốc hồn, ấy là nhờ quân dân một lòng đánh giặc, tướng sỹ một lòng phụ tử, hòa nước sông chén rượu ngọt ngào.

Trong tinh thần ôn cố tri tân, chúng ta hãy ngược dòng lịch sử với cả 4 thời kỳ Bắc thuộc, để được cảm thấy tự hào về truyền thống chống giặc ngoại xâm, giữ gìn vẹn toàn bờ cõi của cha ông ta, mà để từ đó chúng ta suy nghĩ phải làm gì trước một đại họa mất nước, trước một nguy cơ Bắc thuộc lần thứ 5 với sự hợp tác toàn diện của nhà cầm quyền cộng sản Việt Nam với quân xâm lược Bắc phương trong tiến trình xâm lăng nước Việt và đồng hóa dân Việt của Trung cộng:

Thời Bắc thuộc lần thứ 1 trong lịch sử Việt Nam kéo dài từ năm 207 Trước Công Nguyên cho đến năm 39. Đó là thời kỳ nô lệ tối tăm của dân Việt kéo dài hơn 200 năm, nước Việt đặt dưới ách cai trị của phong kiến Trung Quốc mà Việt sử không ghi nhận một cuộc nổi dậy chống đối đáng kể nào của người Việt. Chỉ có những việc chống đối quy mô tương đối nhỏ, lẻ, giết quan lại nhà Hán, đã khiến nhà Hán phải điều động quân đội từ Kinh Sở (Hoa Nam) xuống trấn áp. Cho đến năm 40, do sự tàn bạo của thái thú Tô Định -trấn trị từ năm 34- hai chị em Trưng Trắc và Trưng Nhị đã nổi dậy chống lại sự cai trị bạo tàn đó của nhà Hán. Tô Định bại trận, bỏ chạy về cố Quốc, Hai Bà Trưng xưng vương, xác lập quyền tự chủ của người Việt. Thời Bắc thuộc lần 1 chấm dứt.

Thời Bắc thuộc lần thứ 2 trong lịch sử Việt Nam kéo dài từ năm 43 đến năm 543 là thời kỳ nô lệ kéo dài ngót 500 năm. Thời kỳ này bắt đầu khi Mã Viện theo lệnh Hán Quang Vũ Đế đánh chiếm lại Giao Chỉ từ tay Trưng Vương, kéo dài đến khi Lý Bí khởi binh đánh đuổi thứ sử nhà Lương là Tiêu Tư năm 542 rồi lập ra nước Vạn Xuân năm 544.

Thời Bắc thuộc lần thứ 3 trong lịch sử Việt Nam kéo dài từ năm 602 đến năm 905. Thời kỳ này bắt đầu khi Tùy Văn Đế sai Lưu Phương đánh chiếm nướcVạn Xuân, bức hàng Hậu Lý Nam Đế, kéo dài cho đến khi Khúc Thừa Dụ tiến vào Đại La, giành quyền cai quản toàn bộ Tĩnh Hải quân năm 905 - thời Đường Ai Đế, ông vua bù nhìn trong tay quyền thần Chu Ôn. Đây là thời kỳ dân Việt lại chịu thêm hơn 300 năm nô lệ giặc Tàu.

Thời Bắc thuộc lần 4 hay thời thuộc Minh trong lịch sử Việt Nam bắt đầu từ năm 1407 khi nhà Minh đánh bại nhà Hồ và chấm dứt năm 1427 khi Lê Lợi đánh đuổi được quân Minh ra khỏi bờ cõi, giành thắng lợi hoàn toàn trong cuộc khởi nghĩa Lam Sơn. Thời kỳ thuộc Minh chỉ kéo dài 20 năm.

Cuối thế kỉ 14 nhà Trần sa sút, Hồ Quý Ly dần dần kiểm soát cả triều đình, ra nhiều biện pháp thanh trừng những người trung thành với triều Trần. Ông lên ngôi vua năm 1400, đặt tên nước là Đại Ngu, bắt đầu thực hiện nhiều cải tổ trong hệ thống chính trị và xã hội. Tuy nhiên, do thực hiện quá nhiều thay đổi trong thời gian ngắn, lại không được nhiều cựu thần nhà Trần cũng như dân chúng ủng hộ, lại thêm tình hình kinh tế và xã hội toàn quốc suy yếu vì nhiều nguyên nhân, nên đất nước rơi vào khủng hoảng. Nhân cơ hội đó, năm 1406 nhà Minh ở Trung Quốc dùng chiêu bài “phù Trần diệt Hồ” để mang quân sang xâm lược nước Đại Ngu. Nhà Hồ nhanh chóng thất bại hoàn toàn vào giữa năm 1407. Nước Đại Ngu bị tiêu diệt và bị sát nhập vào lãnh thổ Trung Quốc. Việt Nam bị Trung Quốc đô hộ trở lại sau 500 năm độc lập tự chủ.


Năm 1407, sau khi đánh bại nhà Hồ, nhà Minh đã vơ vét mang về phương bắc 235.900 con voi, ngựa, trâu bò; thóc gạo 13,6 triệu thạch, thuyền bè 8670 chiếc, binh khí hơn 2,5 triệu chiếc.

Nhằm thực hiện nền thống trị lâu dài, nhà Minh không ngừng xây thành lũy, cầu cống, đường sá. Hàng chục vạn dân đinh từ 16 đến 60 tuổi phải ra các công trường với chế độ lao dịch cưỡng bức và sinh hoạt rất thiếu thốn. Các công trường khai mỏ và mò ngọc trai cũng nhiều nhân công. Những người thợ phải làm việc trong điều kiện khắc nghiệt, nguy hiểm đến tính mạng.


Chính sách thuế khóa nhà Minh áp dụng với Giao Chỉ rất nặng nề, trong đó có 2 ngạch chính là thuế ruộng đất và thuế công thương nghiệp. Nhà Minh cử nhiều hoạn quan sang Việt Nam để tiến hành thu thập thuế, cống gửi về kinh đô, đồng thời vơ vét thêm chừng ấy nữa cho riêng mình. Các viên quan này tham lam đến độ chính bản thân Hoàng đế nhà Minh phải can thiệp vào việc chỉ định quan lại sang Giao Chỉ. Vua Minh Nhân Tông phải bác việc Mã Kỳ tiếp tục muốn được bổ nhiệm quản lý việc thu vàng, bạc, trầm hương, ngọc trai tại đây năm 1424.


Từ năm 1407 – 1413, nhà Minh không có khả năng quản lý ruộng đất, số ngạch khi tăng khi giảm không ổn định. Ruộng đất chỉ được trưng dụng một phần để ban cấp cho các thổ quan người Việt thay cho lương. Để cung ứng lương thực cho quân đội, nhà Minh không trông chờ vào nguồn tô thuế ruộng mà phải cho lính mở đồn điền tự sản xuất hoặc dùng hình thức trưng thu để vơ vét.

Để tăng cường khai thác tài nguyên, năm 1415 nhà Minh tiến hành khám thu các mỏ vàng, mỏ bạc, mộ phu đãi vàng và mò trân châu. Năm 1418, nhà Minh mở trường mò ngọc trai, tìm kiếm hương liệu; bắt người Việt săn bắt những thú vật quý để nộp như rùa 9 đuôi, vượn bạc má, chồn trắng, hươu trắng, voi trắng.


Đối với nghề nấu muối và bán muối, nhà Minh nắm quyền khai thác độc quyền. Người đi đường chỉ được đem 3 bát muối và 1 lọ nước mắm.


Người Việt bị bắt phải theo những phong tục tập quán của Trung Quốc: phải để tóc dài, không được cắt tóc; phải để răng trắng không được nhuộm; phụ nữ phải mặc áo ngắn quần dài giống Trung Quốc. Quan lại phải đội khăn đầu rìu, áo viền cổ tròn có vạt, áo dài vạt bằng tơ lụa, hài ống cao có dây thắt.


Tục thờ cúng và sinh hoạt tín ngưỡng của người Việt cũng bị đàn áp thô bạo. Nhiều đàn tràng thờ kiểu Trung Quốc được lập dựng khắp nơi.


Đại Việt từ khi chính thức độc lập vào thế kỷ 10, trải qua hơn 500 năm đã lớn mạnh nhanh chóng, giữ vững bờ cõi, xâm lấn về phía nam, tất cả các mặt đều phát triển mạnh mẽ, nhất là văn hóa đã trở thành quốc hồn quốc túy và có nhiều nét riêng biệt so với Bắc triều. Chẳng hạn vua Trần Nhân Tông xuất gia lập nên Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử là việc chưa hề thấy trong lịch sử Trung Hoa. Sự lớn mạnh và độc lập của Đại Việt là một hiểm họa cho Bắc triều đã được chứng minh qua các cuộc chiến tranh Việt - Tống, Việt - Nguyên; nên nhà Minh từ khi nắm quyền không thể không biết. Nhằm thủ tiêu nền văn hóa của người Việt, ngay năm 1406, khi phát binh đánh Đại Ngu, Minh Thành Tổ đã ban sắc viết:


Khi binh lính vào nước Nam, trừ các kinh Nho gia, kinh Phật, đạo Lão không thiêu hủy. Ngoài ra, tất cả sách vở, văn tự cho đến các loại văn tự ghi chép ca lý dân gian, hay sách dạy trẻ con học… đều đốt hết. Phàm những văn bia do Trung Quốc dựng từ xưa thì đều phải giữ cẩn thận, còn các bia do An Nam dựng thì phá hủy tất cả, một chữ không để sót.”


Năm 1407, Minh Thành Tổ ra chiếu lệnh thứ hai nhằm hủy diệt văn văn hóa triệt để hơn.:


“Nhiều lần trẫm đã bảo các ngươi, phàm An Nam có văn tự gì, kể cả các câu hát dân gian,… các bia dù dựng lên một mảnh, hễ nom thấy là phá hủy hết. … Sách vở do quân lính bắt được phải ra lệnh đốt luôn, chớ được lưu lại.”


Sự hủy diệt đó khiến Ngô Sĩ Liên, nhà sử học chứng kiến những sự kiện này than rằng:


Giáo mác đầy đường đâu cũng thấy quân Minh cuồng bạo. Sách vở cả nước thành một đống tro tàn.

Năm 1418, nhà Minh sai Hạ Thanh và Hạ Thì sang thu các loại sách ghi chép về sự tích xưa của người Việt đưa về Trung Quốc. Các tác phẩm văn học, sử học, pháp luật, quân sự của đời trước đã bị tịch thu đưa về Trung Quốc và tất cả đều bị Minh Thành Tổ ra lệnh thiêu hủy.


Lấy đi sách vở của người Việt, nhà Minh mang sang những sách vở Trung Quốc phát cho các thôn, huyện để tuyên truyền văn hóa Trung Quốc. Đây là một chính sách lớn của nhà Minh do Minh Thành Tổ chủ trương, nhằm triệt để đồng hóa dân An Nam thành người Hán.

May thay, ngay khi nhà Hồ thất bại, đã có nhiều phong trào chống Minh bắt đầu nổi lên khắp nơi. Trong các phong trào kháng chiến chống giặc Minh, lớn nhất là sự nổi dậy của nhà Hậu Trần và khởi nghĩa Lam Sơn của Lê Lợi.


Năm 1418, Lê Lợi dấy binh, bắt đầu khởi nghĩa ở Lam Sơn. Từ năm 1424 Lê Lợi tiến ra bắc, đánh bại các đạo quân sở tại và 4 đạo quân viện binh lần lượt sang từ năm 1426 đến 1427. Cuối cùng, tướng nhà Minh là Vương Thông phải xin giảng hòa, rút quân về nước, kết thúc thời kỳ Bắc thuộc lần thứ tư kéo dài 20 năm. Người Việt lại giành độc lập tự chủ với Tuyên Ngôn Độc Lập của Nguyễn Trãi, kết thúc 1.000 năm nô lệ giặc Tàu.


Như vậy, chẳng phải đến ngày nay Hán tộc mới bày tỏ lòng lòng ngạo mạn đối với các dân tộc lân bang cũng như đối với người Bách Việt. Tuy vậy sự tồn tại của dân Bách Việt và nước Việt cho đến ngày nay cũng như những trang sử dựng nước và giữ nước của dân tộc đã chứng minh hùng hồn rằng dẫu chúng ta thường phải lấy yếu để đánh mạnh, lấy ít để địch nhiều, nhưng trước những trận chiến chống lại quân Bắc phương xâm lược, quân dân Nam luôn chiến thắng hết sức hào hùng, khiến ngay cả Hán Hiến Đế của Tàu Man phải tâm phục, khẩu phục mà rằng: “Giao Chỉ là đất văn hiến, núi sông un đúc, trân bảo rất nhiều, văn vật khả quan, nhân tài kiệt xuất ..!”.


Dẫu phải trải qua ngót 1.000 năm Bắc thuộc, nhưng thực tế là dân Việt chưa bao giờ thần phục vua quan bọn Tàu Man, mà chỉ sau khi gia nhập Quốc Tế Cộng Sản, Hồ Chí Minh, một Lê Chiêu Thống của thời đại đã cùng đồng bọn bắt đầu quỳ lạy Tàu Man, xem Trung Cộng là mẫu quốc, tôn Tàu Man lên trên cả tiên tổ nhiều đời, và quỳ dâng cho Tàu Man hết biển đảo rồi đến đất liền và lại dành cho Tàu Phù những ưu ái lớn lao trong các hoạt động thương mại, trong khai thác tài nguyên, cũng như trong tất cả mọi lĩnh vực kinh tế vi mô và vĩ mô khác trên đất nước. Đã thế, lại thẳng tay đàn áp, khủng bố và giam cầm những người Việt Nam yêu nước, dám lên tiếng phản đối chính sách xâm lược từng bước của Tàu cộng đối với lãnh hải, lãnh thổ Việt Nam, thì làm gì chẳng khiến cho một thảo dân như chủ nhân của “Snack Bắc Kinh” lại không khinh bỉ và miệt thị Việt tộc đến vậy: “không tiếp đón người Nhật - Người Philippines - Người Việt Nam và CHÓ” …

Bọn Nô Lệ Tự Nguyện Đang Quỳ Lạy Tàu Man
Với dòng máu quật cường của con dân Lạc Việt đã bao phen chống lại sự xâm lăng và đồng hóa của Tàu Man, để giành độc lập tự chủ và vẹn toàn lãnh thổ xuyên suốt bốn ngàn năm dựng nước và giữ nước vừa qua, chúng tôi những người Việt Nam không cộng sản xin tuyên bố với thế giới loài người rằng:

·        Chỉ có nhà cầm quyền cộng sản Việt Nam là thần phục và quỳ lạy Tàu Man, nhưng 90 triệu người dân Việt chúng tôi không bao giờ thần phục Tàu Man.

·         Chúng tôi chấp nhận sự tồn tại của các giống trâu, bò, mèo, chó và các loài súc sinh khác trên đất nước Việt Nam, nhưng chúng tôi không chấp nhận sự có mặt của bất cứ tên Tàu Man nào trên lãnh thổ Việt Nam từ những tên đại diện cho chính quyền Trung cộng tại các đại sứ quán, lãnh sự quán của Tàu Man tại Việt Nam cho đến các doanh nhân, doanh nghiệp, các tiểu thương và cả du khách Tàu Man… đều phải cút khỏi đất nước Việt Nam để tránh làm ô uế đến mảnh “đất văn hiến, núi sông un đúc, trân bảo rất nhiều, văn vật khả quan, nhân tài kiệt xuất” của Đại Việt.

·        Dân tộc Việt Nam, muôn người như một, vì lòng tự tôn dân tộc, chúng tôi cương quyết tẩy chay tất cả các loại hàng hóa, dịch vụ của Tàu Man, một kẻ thù truyền kiếp của dân Việt.

·        Dân tộc Việt Nam, muôn người như một, sẽ vĩnh viễn đoạn giao với Tàu cộng trên tất cả các lĩnh vực văn hóa, chính trị và kinh tế và sẵn sàng tiêu diệt mọi phần tử Tàu Man hiện diện trên lãnh thổ Việt Nam với bất cứ lý do gì.

·        Tổ Quốc và Dân Tộc Việt Nam trường tồn muôn năm. Đả đảo Tàu cộng xâm lăng Việt Nam. Đả đảo Tàu Man xúc phạm danh dự dân tộc Việt Nam. Đả đảo cộng sản Việt Nam quỳ lạy và dâng bán đất nước Việt Nam cho tàu cộng.

Ngày 26 tháng 02 năm 2013
Nguyễn Thu Trâm

Trí Nhân Media